"Ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam phát triển chậm là việc dễ hiểu"

Tại hội thảo "Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025," tổ chức mới đây, nhiều ​tham luận đã chỉ ra các bất cập đối với ngành này trong vấn đề năng lực cạnh tranh, năng suất lao động và tỷ lệ nội địa hóa...
Ảnh chỉ mang tính minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Để có cách nhìn toàn diện hơn, Tiến sỹ Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đã có một số trao đổi với phóng viên về cơ chế chính sách hiện nay, qua đó đóng góp những ý kiến nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới.

- Thưa ông, những lo ngại về ngành công nghiệp nhất là công nghiệp phụ trợ đã được chuyên gia đề cập tới, vậy ông đánh giá thế nào về chính sách phát triển công nghiệp trong thời gian vừa qua?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Cũng phải nói rằng, trong vài thập niên qua, chính sách phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Có thể thấy, cùng với sự hỗ trợ của ngành công nghiệp đã góp phần hình thành thêm một số ngành mới.

Thêm vào đó, một số doanh nghiệp của Việt Nam đã tận dụng được cơ hộ để nâng cao năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh để có thể vươn ra tầm khu vực.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một thực tế, trên vài phương diện rất quan trọng, đến nay chúng ta vẫn chưa đạt được như kế hoạch đặt ra. Đơn cử trong ngành công nghiệp hỗ trợ, chỉ một số ít doanh nghiệp có thể đạt được kế hoạch về nâng cao tỷ lệ nội địa hóa như mục tiêu ban đầu đối với ngành này và có thể trở thành trụ cột cho ngành công nghiệp phát triển.

- Vậy nguyên nhân của những yếu kém trên là gì thưa ông?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Có thể thấy, dù Việt Nam là nước đi sau nhưng trình độ trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ còn thấp, chưa ứng dụng được nhiều thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất trong khi năng lực của doanh nghiệp lại yếu kém, chưa bắt kịp với xu hướng đi lên của thế giới chính vì thế chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ khó đạt được như kế hoạch đề ra.

Hơn nữa do trình độ phát triển thấp nên không bảo đảm được lợi thế kinh tế về vĩ mô cho công nghiệp hỗ trợ và không đảm bảo được trình độ nhân lực chất lượng cao để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh cho toàn ngành.

Quan trọng hơn, chúng ta cũng phải thấy một yếu tố quan trọng không kém chính là việc đầu tư vốn cho lĩnh vực này vẫn còn chưa nhiều. Thực tế, chính sách hỗ trợ của Việt Nam vào lĩnh vực công nghiệp phụ trợ thời gian qua đã có nhưng chậm được ban hành. Đặc biệt là việc tiếp cận nguồn vốn cho công nghiệp phụ trợ gần đây mới được thể chế hóa, do vậy cùng với năng lực yếu kém của doanh nghiệp thì công nghiệp phụ trợ phát triển chậm là việc dễ hiểu.

Một điểm nữa là việc hoạch định chính sách đối với lĩnh vực công nghiệp phụ trợ chưa thực sự hiệu quả. Tất cả các yếu tố trên là nguyên nhân cơ bản khiến công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa đạt được như kỳ vọng, hậu quả là giá trị tạo ra trong nước của nhiều ngành rất thấp, kéo theo nhập khẩu nhiều, chính vì vậy người được hưởng lợi nhiều hơn trong ngành lại là những nước mà Việt Nam nhập khẩu hàng hóa.

Chính vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu và đặc biệt với việc đề cao vai trò Chính phủ kiến tạo, việc thiết kế chính sách phải chuyên nghiệp hơn, thông minh hơn và nâng cao một cách cơ bản thì Việt Nam với tính cách là người đến muộn, mới thu được lợi nhiều hơn từ việc hội nhập, nhất là các FTA thế hệ cao.

Tiến sỹ Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

- Vậy theo ông thời gian tới, định hướng về những chính sách trong lĩnh vực này cần tập trung như thế nào?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Theo tôi, điều quan tâm hiện nay là phải nâng cao hơn nữa hiệu quả cũng như sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp phụ trợ. Tiếp đến là tập trung phát triển nguồn nhân lực và tận dụng hội nhập để có được lợi thế kinh tế công nghiệp vĩ mô.

Tuy vậy, việc thu hút chính sách đầu tư nước ngoài ở Trung ương đến địa phương cũng phải tính và hiểu rất rõ các mạng lưới chân rết của các công ty xuyên quốc gia, để từ đó có chính sách thu hút phù hợp.

Ví dụ bên Trung Quốc họ sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ tốt rồi, nếu ở miền Bắc của Việt Nam cũng tính để đầu tư và thu hút dạng như vậy thì không thành công, mà cần tính tới mạng lưới toàn khu vực.

Cụ thể hơn là phải xem chúng ta có thể len vào chuỗi giá trị và chuỗi sản xuất khu vực như thế nào? Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu rất chuyên sâu, cũng như đòi hỏi kiến tạo của chính sách phải lớn hơn nữa.

- Ông có thể nói rõ hơn các cơ hội của doanh nghiệp khi tham gia các hiệp định thương mại tự do?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Theo tôi, doanh nghiệp Việt cần nỗ lực là một khâu hoặc mắt xích của của chuỗi liên kết (giá trị và sản xuất). Đây là cách để doanh nghiệp bắt kịp các xu hướng quản lý, sản xuất, quản lý, công nghệ.

Bên cạnh đó, từng doanh nghiệp cần xác định rõ lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của mình đang và sẽ đầu tư, điểm mạnh, điểm yếu, cũng như tìm hiểu kỹ các đối thủ tiềm năng và nhận thức đúng các cơ hội, rủi ro như lịch trình cắt giảm thuế quan, xu thế công nghệ và quản trị doanh nghiệp.

- Vậy khi tham gia các hiệp định thương mại tự do, nhất là hiệp định RCEP liệu chúng ta có tận dụng được gì để phát triển ngành công nghiệp cũng như tạo động lực lớn hơn cho nền kinh tế không thưa ông?

Tiến sỹ Lê Xuân Sang: Trước khi đi vào đánh giá tác động RCEP với kinh tế Việt Nam, cần phải thấy rằng, việc hoàn tất hiệp định này tương đối khó và đến nay chưa thực sự rõ ràng.

Còn với Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) nếu được thực hiện theo đúng tinh thần cốt lõi như ban đầu sẽ rất tốt cho kinh tế của Việt Nam. Đơn cử hàng dệt may, chỉ có TTP là có quy định từ “sợi trở đi”, đây là những quy định giúp Việt Nam phát triển công nghiệp hỗ trợ, chuyển đổi nhanh hơn sang mô hình tăng trưởng có giá trị gia tăng lớn hơn và có tính tự chủ kinh tế cao hơn....

Còn đối với hiệp định RCEP để đón nhận được những cơ hội của hiệp định này cũng cần chuẩn bị rất kỹ. Bởi vì chúng ta biết, từ năm 2010 đến nay dưới tác động của hiệp định Trung Quốc-ASEAN với hàng rào thuế quan hạ xuống rất mạnh thì hầu hết các nước ASEAN phải chịu thậm hụt với Trung Quốc, đây cũng là yếu tố mà nhiều đối tác trong RCEP rất lo ngại.

- Xin cảm ơn ông./.

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand bắt đầu đàm phán từ ngày 9/5/2013...

Điểm khác biệt lớn nhất của TPP và RCEP là việc áp đặt tiêu chuẩn hoạt động thương mại. Không như TPP, được coi là một hiệp định thế hệ mới yêu cầu sự đồng nhất chặt chẽ giữa các nước thành viên và có "chất lương cao", RCEP đặt ra các tiêu chuẩn thấp hơn và chấp thuận việc các nước thành viên đặt các rào cản không đồng nhất...

RCEP chú trọng hơn vào việc phát triển đồng nhất nền kinh tế của khu vực ASEAN, kết hợp giữa tầm nhìn khu vực ASEAN + 3 của Trung Quốc và ASEAN + 6 của Nhật Bản để kết nối giữa những quốc gia đã sẵn có thoả thuận sẵn với nhau.
Bình luận

Đọc nhiều

Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp cao su lớn thứ hai cho Trung Quốc

Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp cao su lớn thứ hai cho Trung Quốc

Quý I/2026, xuất khẩu cao su của Việt Nam ước đạt 411 nghìn tấn, trị giá 752 triệu USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2025.
Lâm Đồng: Thu ngân sách từ dầu khí và nhiệt điện đạt kết quả tích cực

Lâm Đồng: Thu ngân sách từ dầu khí và nhiệt điện đạt kết quả tích cực

Thu ngân sách từ dầu khí và các nhà máy nhiệt điện tại Lâm Đồng trong quý I/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu khả quan, đóng góp quan trọng vào ngân sách địa phương.
Dự án công nghiệp sản xuất ray và thép Hòa Phát sẽ chạy thử vào quý III/2026

Dự án công nghiệp sản xuất ray và thép Hòa Phát sẽ chạy thử vào quý III/2026

Dự kiến, vào quý III/2026, Dự án nhà máy sản xuất Ray và Thép đặc biệt Hòa Phát Dung Quất sẽ chạy thử thiết bị và cho ra lò sản phẩm vào quý I/2027.
Nuôi trồng thủy sản tại hồ chứa: Khai mở dư địa xuất khẩu

Nuôi trồng thủy sản tại hồ chứa: Khai mở dư địa xuất khẩu

Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2026–2030 kỳ vọng biến nguồn tài nguyên này thành động lực tăng trưởng mới, tạo giá trị hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Lối thoát nào cho dòng chảy dầu mỏ khi 'mạch máu' Hormuz bị tắc nghẽn?

Lối thoát nào cho dòng chảy dầu mỏ khi 'mạch máu' Hormuz bị tắc nghẽn?

Khi “mạch máu” Hormuz tắc nghẽn, dòng chảy dầu mỏ toàn cầu bị đe dọa. Các nước vùng Vịnh chạy đua tìm tuyến xuất khẩu thay thế nhưng đang vấp phải nhiều rủi ro.
Infographic | Quý I xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng 5,9%

Infographic | Quý I xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng 5,9%

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng thống Trump công bố khung thời gian rút quân khỏi Trung Đông

Tổng thống Trump công bố khung thời gian rút quân khỏi Trung Đông

Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa công bố khung thời gian rút quân khỏi Trung Đông, nhấn mạnh việc hoàn tất nhiệm vụ sẽ diễn ra trong vài tuần tới.
Infographic | Du lịch Hà Nội tăng trưởng mạnh mẽ trong quý I/2026

Infographic | Du lịch Hà Nội tăng trưởng mạnh mẽ trong quý I/2026

Tổng thu từ khách du lịch của Hà Nội 3 tháng năm 2026 ước đạt 36,99 nghìn tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2024.
Biến động giá nhiên liệu, các hãng hàng không xoay sở ra sao?

Biến động giá nhiên liệu, các hãng hàng không xoay sở ra sao?

Ứng phó với biến động giá nhiên liệu, các hãng hàng không tiếp tục tối ưu đội bay, tối ưu lịch bay, nâng cao hiệu suất khai thác, ứng dụng công nghệ để giảm chi phí.
Cuộc bầu cử thành công khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Cuộc bầu cử thành công khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Thành công của cuộc bầu cử tiếp tục khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tinh thần trách nhiệm của nhân dân.