
Tối ưu lợi ích từ FTA: Doanh nghiệp cần đổi cách làm
Ưu đãi thuế quan chưa trở thành lợi thế thực tế
Việt Nam đang sở hữu mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực, kết nối với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Các cam kết này mở thêm không gian thị trường, đồng thời tạo lợi thế về thuế quan cho hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, việc tối ưu hoá lợi ích từ các FTA còn là vấn đề phải bàn.
Báo cáo của Bộ Công Thương về hiệu quả tận dụng các FTA năm 2025 cho thấy, dù kim ngạch xuất nhập khẩu với các đối tác thuộc Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), EU và Vương quốc Anh tiếp tục tăng, tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi lại có xu hướng giảm. Cụ thể, tỷ lệ này tại CPTPP giảm 1,15%, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) giảm 0,45% và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA) giảm 4,34% so với năm 2024.

Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa tối ưu hoá được lợi ích từ các FTA.
Trả lời phỏng vấn Báo Công Thương, ông Nguyễn Tuấn Việt, CEO VIETGO, chuyên gia trong lĩnh vực xúc tiến và kết nối xuất khẩu cho hay, tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA chưa cao, vấn đề không nằm ở việc doanh nghiệp có biết FTA hay không, mà ở khả năng đưa cam kết thương mại vào quyết định kinh doanh. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, những yêu cầu về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, hồ sơ chứng minh nguồn gốc hay thông tin thị trường có thể trở thành rào cản lớn.
Ngành dệt may là một ví dụ, khi xuất khẩu sang EU, doanh nghiệp muốn hưởng ưu đãi từ EVFTA phải đáp ứng quy tắc xuất xứ, trong đó nguyên phụ liệu cần đáp ứng các yêu cầu về nguồn gốc theo cam kết. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chỉ chú trọng nhập nguyên phụ liệu có giá thấp mà không tính đến điều kiện xuất xứ, hàng hóa có thể không đủ điều kiện hưởng thuế suất ưu đãi.
Khi đó, cái tưởng là lợi thế về giá đầu vào chưa chắc tạo ra lợi thế cuối cùng cho cả chuỗi. Nhà nhập khẩu có thể phải chịu mức thuế cao hơn, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam.
Thực tế này cũng cho thấy cách tiếp cận FTA không thể chỉ dừng ở việc phổ biến nội dung hiệp định. Doanh nghiệp cần được hướng dẫn cụ thể hơn, như mặt hàng nào có lợi thế, thị trường nào phù hợp, quy tắc xuất xứ ra sao, nguồn nguyên liệu cần điều chỉnh thế nào và ưu đãi thuế quan thực sự đem lại lợi ích bao nhiêu.
Tìm đúng nhu cầu thị trường
Một vấn đề khác được ông Nguyễn Tuấn Việt lưu ý là doanh nghiệp không nhất thiết phải coi các tiêu chuẩn cao của những thị trường như EU là con đường duy nhất để khai thác FTA.
Theo ông, mạng lưới FTA mở ra nhiều lựa chọn. Doanh nghiệp có thể hướng tới những thị trường khó tính nếu đủ năng lực đáp ứng; ngược lại, có thể lựa chọn các thị trường phù hợp hơn với trình độ sản xuất, tiêu chuẩn và nguồn lực hiện có.
Quan trọng hơn, doanh nghiệp cần thay đổi cách xác định sản phẩm và thị trường. Thay vì sản xuất những gì mình có rồi tìm người mua, doanh nghiệp nên nghiên cứu nhu cầu trước, sau đó lựa chọn sản phẩm và thị trường có lợi thế FTA. “Điều quan trọng nhất với doanh nghiệp là sự thay đổi về tư duy, hãy chuyển từ việc bán thứ mình có sang bán thứ thị trường đang cần”, ông Việt nhấn mạnh.
Theo đó, khi doanh nghiệp xác định được sản phẩm đang có nhu cầu cao, bước tiếp theo là tìm thị trường có FTA với Việt Nam và nghiên cứu kỹ ưu đãi dành cho sản phẩm đó. Khi nhà nhập khẩu được hưởng mức thuế thuận lợi, hàng hóa Việt Nam có thể có thêm lợi thế so với nguồn cung từ những quốc gia không có FTA tương ứng.
Thị trường Canada được ông Việt dẫn chứng. Đây là thị trường có FTA với Việt Nam và có nhu cầu lớn đối với những sản phẩm phù hợp với điều kiện khí hậu lạnh như áo jacket, áo chần bông. Nếu doanh nghiệp nắm đúng nhu cầu, đáp ứng yêu cầu của thị trường và tận dụng được ưu đãi thuế quan, khả năng cạnh tranh sẽ được cải thiện.
Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi không nhất thiết phải có quy mô rất lớn mới có thể tham gia chuỗi xuất khẩu. Điều quan trọng là khả năng tìm kiếm thông tin, xác định đúng khách hàng và tổ chức nguồn cung đáp ứng yêu cầu.
Một điểm đáng chú ý khác là vai trò của các doanh nghiệp thương mại trong chuỗi xuất khẩu. Theo ông Việt, hiện tồn tại khoảng cách khá rõ giữa nhóm doanh nghiệp sản xuất truyền thống và lớp doanh nghiệp thương mại mới.
Các nhà sản xuất có thế mạnh về máy móc, vùng nguyên liệu và năng lực sản xuất nhưng có thể hạn chế về ngoại ngữ, nhân sự thương mại và khả năng tiếp cận khách hàng quốc tế. Trong khi đó, doanh nghiệp thương mại mới thường nhỏ, nhân sự ít nhưng có khả năng tìm kiếm khách hàng, theo dõi xu hướng và kết nối nguồn cung.
Vì vậy, thay vì chỉ tập trung hỗ trợ năng lực sản xuất, cần chú trọng xây dựng “đội ngũ bán hàng” của nền kinh tế. Đây là lực lượng có thể tìm kiếm nhu cầu, xác định thị trường, kết nối với nhà máy trong nước và đưa hàng hóa đến đúng khách hàng.
Nếu doanh nghiệp Việt Nam không làm tốt khâu này, dư địa thị trường có thể bị các doanh nghiệp thương mại nước ngoài lấp đầy. Khi đó, hàng hóa vẫn được sản xuất tại Việt Nam nhưng phần giá trị gia tăng từ khâu thương mại, kết nối khách hàng và tận dụng FTA có thể nằm lại ở doanh nghiệp nước ngoài.
Từ thực tế kết nối xuất khẩu, ông Việt cũng cho rằng chính sách xúc tiến thương mại trong thời gian tới việc cung cấp thông tin về FTA không chỉ nên dừng ở việc giới thiệu cam kết, mà cần đi sâu vào từng ngành hàng, từng thị trường, từng nhóm doanh nghiệp và từng yêu cầu cụ thể.
Để tối ưu hoá lợi ích từ các FTA, điều quan trọng là thay đổi tư duy của doanh nghiệp từ bán những cái mình có sang sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm thị trường cần.
Tin mới cập nhật


Đắk Lắk tăng cường xúc tiến thương mại tại UAE và Hàn Quốc

Thụy Điển siết yêu cầu vật liệu tiếp xúc thực phẩm

FTA gia tăng sức hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Đọc nhiều

Giá cà phê giảm sâu, xuất khẩu 8 tháng vẫn tăng mạnh về lượng

Tăng cường liên kết chuỗi cung ứng công nghệ tại Việt Nam

FTA gia tăng sức hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Người trẻ 'hồi sinh' tinh hoa đồ chơi Trung thu cổ truyền Hà Nội

Học viện Hải quân khai giảng đào tạo sĩ quan Hải quân Hoàng gia Campuchia

ADI ký thỏa thuận mua lại Alif Semiconductor trị giá 1,35 tỷ USD

Xuất khẩu trực tuyến: Doanh nghiệp làm gì để tăng tốc?

Nâng hạng hỗ trợ thanh khoản, VN-Index dao động 1.700 - 1.991 điểm

VAMOBA triển khai chuỗi hoạt động kết nối giao thông xanh




