
Luật Dầu khí (sửa đổi): Mở rộng không gian phát triển cho ngành công nghiệp năng lượng
Ngày 23/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) với kết quả 473/475 đại biểu Quốc hội tán thành.
Việc Luật Dầu khí (sửa đổi) được thông qua được kỳ vọng sẽ tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ những điểm nghẽn trong hoạt động dầu khí, tăng cường phân cấp, phân quyền, đồng thời tạo thêm dư địa thu hút đầu tư và mở rộng không gian phát triển cho ngành dầu khí trong giai đoạn mới.
Xung quanh những điểm mới của Luật Dầu khí (sửa đổi), cũng như những tác động đối với hoạt động thăm dò, khai thác và định hướng phát triển ngành dầu khí Việt Nam trong giai đoạn mới, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Văn Tư, Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI).
Gỡ điểm nghẽn, mở dư địa mới
- Thưa ông, việc Quốc hội thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) lần này có ý nghĩa như thế nào đối với việc hoàn thiện thể chế và mở ra dư địa phát triển mới cho ngành dầu khí Việt Nam?
TS. Nguyễn Văn Tư: Luật Dầu khí năm 2022 có hiệu lực từ ngày 1/7/2023, nhưng chỉ trong hơn 3 năm qua, sự thay đổi lớn về địa chính trị, xu hướng chuyển dịch năng lượng và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đã trở thành ràng buộc thực tế đối với dòng vốn quốc tế.
TS. Nguyễn Văn Tư, Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam.
Đặc biệt, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra những yêu cầu nhiệm vụ mới. Luật Dầu khí (sửa đổi) lần này chính là bước thể chế hóa quan trọng nhất của Nghị quyết số 70-NQ/TW trong lĩnh vực thượng nguồn, đồng thời cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP về thông qua chính sách của Luật Dầu khí (sửa đổi).
Theo tôi, ý nghĩa lớn nhất của Luật Dầu khí (sửa đổi) là sự thay đổi tư duy từ “quản lý tài nguyên” sang “kiến tạo phát triển”, từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên giám sát và kiểm toán. Đây cũng là tinh thần mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều lần nhấn mạnh: kiên quyết không để thể chế trở thành điểm nghẽn của phát triển.
- Theo ông, việc sửa đổi Luật Dầu khí lần này đã mở ra những cơ chế mới nào để ngành dầu khí vận hành linh hoạt, hiệu quả hơn?
TS. Nguyễn Văn Tư: Tôi cho rằng có 4 nhóm nội dung mang tính đột phá nhất của Luật Dầu khí (sửa đổi).
Thứ nhất là Luật Dầu khí (sửa đổi) phân cấp, phân quyền theo mô hình 3 tầng rành mạch: Chính phủ quyết định các vấn đề vĩ mô như phân lô dầu khí và chính sách ưu đãi đầu tư; Bộ Công Thương là đầu mối quản lý nhà nước chuyên ngành, phê duyệt hợp đồng dầu khí và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) được trao thẩm quyền thực chất trong đàm phán, ký kết, quản lý và giám sát hoạt động dầu khí - chấm dứt tình trạng hồ sơ đi qua nhiều tầng nấc. Đây chính là sự cụ thể hóa yêu cầu “phân cấp, phân quyền tối đa, thực chất” mà Bộ Chính trị đã nêu tại Kết luận Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV.
Thứ hai là Luật Dầu khí (sửa đổi) tách bạch tư cách doanh nghiệp tham gia hoạt động dầu khí vì mục tiêu thương mại với tư cách đại diện nước chủ nhà quản lý, giám sát hợp đồng, đi kèm cơ chế minh bạch xử lý các khoản chi phí Petrovietnam bỏ ra khi thực hiện nhiệm vụ thay mặt Nhà nước - điều kiện tiên quyết để người được trao quyền dám quyết định, dám chịu trách nhiệm.
Thứ ba là Luật Dầu khí (sửa đổi) bổ sung 2 nội dung hoàn toàn mới: Lần đầu tiên luật hóa hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon theo trọn vòng đời dự án, từ đánh giá địa chất, xây dựng hạ tầng, giám sát đến đóng công trình; tạo hành lang cho phát triển công trình, năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí.
Thứ tư là Luật Dầu khí (sửa đổi) thiết kế cơ chế ưu đãi cho mỏ nhỏ, mỏ cận biên ở vùng nước sâu xa bờ, cùng chính sách khuyến khích đầu tư công nghệ nâng cao hệ số thu hồi dầu tại các cụm mỏ hiện hữu.
Quan trọng nhất là cả 4 nhóm nội dung này đi cùng cơ chế hậu kiểm chặt chẽ hơn với phân cấp mạnh nhưng kiểm soát được rủi ro, đúng tinh thần “phân cấp đi đôi với kiểm tra, giám sát, trách nhiệm giải trình” mà Quốc hội đã nhấn mạnh xuyên suốt quá trình thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Tăng sức hút đầu tư vào dầu khí
- Theo ông, những cơ chế mới trong Luật Dầu khí (sửa đổi) có thể cải thiện môi trường đầu tư dầu khí của Việt Nam như thế nào?
TS. Nguyễn Văn Tư: Nhà đầu tư thường cân nhắc các yếu tố như chất lượng địa chất; điều kiện tài chính của hợp đồng; thời gian phê duyệt thủ tục; mức độ linh hoạt khi chuyển nhượng quyền lợi tham gia…
Việc rút ngắn thời gian phê duyệt dự án nhờ tối ưu phân cấp, tôi cho rằng có giá trị kinh tế không thua kém khoản ưu đãi thuế. Các gói ưu đãi riêng cho mỏ nhỏ, cận biên, nước sâu xa bờ và khai thác tận thu cũng đúng hướng, bởi đó chính là hình dạng thực tế của tiềm năng còn lại. Song ưu đãi phải có giới hạn rõ ràng và cơ chế thu hồi chi phí phải minh bạch, tránh đánh đổi lợi ích dài hạn của Nhà nước lấy dòng vốn ngắn hạn.
Tuy nhiên, việc cần làm ngay là các cấp thẩm quyền ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Dầu khí (sửa đổi), bảo đảm thống nhất với các chính sách, nguyên tắc được quy định tại Luật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Luật Dầu khí (sửa đổi) tạo động lực mới cho ngành công nghiệp năng lượng với cơ chế phân quyền, ưu đãi đầu tư và hành lang pháp lý.
Giai đoạn 2026-2030, mục tiêu gia tăng trữ lượng 33 triệu tấn dầu quy đổi, sản lượng khai thác 32,2 triệu tấn, với nhu cầu vốn khoảng 175 nghìn tỷ đồng - gấp 4 lần giai đoạn trước, là thách thức rất lớn. Thực hiện chỉ đạo của Petrovietnam, VPI đang phối hợp với đơn vị liên quan triển khai điều tra cơ bản và mở dữ liệu địa chất dầu khí theo chuẩn quốc tế, đồng thời đề xuất chuẩn hóa hợp đồng dầu khí mẫu.
- Việc luật hóa hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) có thể mở ra dư địa phát triển mới nào cho ngành dầu khí Việt Nam?
TS. Nguyễn Văn Tư: Việt Nam có tiềm năng lưu trữ CO2 trong các mỏ dầu khí cạn kiệt, tầng chứa nước mặn sâu và vỉa than sâu, tập trung ở bể Sông Hồng và khu vực bể Cửu Long - Nam Côn Sơn. Đây là lợi thế không nhiều nước trong khu vực có được.
Đối với các dự án CCS, việc tận dụng các mỏ dầu khí cạn kiệt (có đầy đủ dữ liệu địa chất và mô hình mỏ) sẽ giúp giảm đáng kể rủi ro địa chất và chi phí đầu tư. Theo nghiên cứu của VPI, nếu được đầu tư và phát triển đúng hướng, Việt Nam có thể tham gia thị trường dịch vụ lưu trữ carbon khu vực Đông Nam Á với quy mô ước tính khoảng 40 tỷ USD.
Về chi phí trọn chuỗi thu giữ - vận chuyển - lưu trữ CO2 dao động khoảng 100-350 USD/tấn CO2, trong khi giá tín chỉ carbon thí điểm trong nước chỉ khoảng 120.000-140.000 đồng/tấn và thị trường carbon bắt buộc dự kiến đến năm 2029 mới vận hành chính thức.
Vì vậy, tôi cho rằng trong giai đoạn đầu nên ưu tiên giải pháp bơm ép CO2 để nâng cao hệ số thu hồi dầu, để doanh thu từ sản lượng dầu gia tăng bù đắp chi phí, cùng với đó hướng tới cung cấp dịch vụ cho khách hàng quốc tế và tài chính khí hậu.
Về thể chế, tôi cho rằng có 3 nhóm vấn đề pháp lý cần được văn bản dưới luật cần làm rõ để tạo cơ sở triển khai CCS một cách an toàn và bền vững. Thứ nhất, quyền sử dụng không gian lưu trữ dưới đáy biển, bao gồm cơ chế cấp phép, phạm vi và thời hạn sử dụng đối với các thành tạo địa chất dùng để lưu trữ CO2.
Thứ hai là trách nhiệm pháp lý và tài chính dài hạn sau khi đóng công trình lưu trữ, cụ thể là quy định trách nhiệm giám sát, xử lý sự cố (như rò rỉ CO2) và trong khoảng thời gian bao lâu sau khi dự án kết thúc vòng đời vận hành.
Thứ ba là xây dựng hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định đạt chuẩn quốc tế, làm cơ sở để tín chỉ carbon từ các dự án CCS tại Việt Nam được công nhận và giao dịch xuyên biên giới.
Đây là những nội dung kỹ thuật - pháp lý phức tạp, cần được nghiên cứu thấu đáo kỹ lưỡng và tham vấn kinh nghiệm quốc tế. Thực hiện chỉ đạo của Petrovietnam, VPI đang triển khai nghiên cứu các nội dung này và sẵn sàng phối hợp với cơ quan quản lý trong quá trình xây dựng bộ tiêu chí liên quan, cũng như đề xuất cấp thẩm quyền xem xét triển khai dự án CCS thí điểm thương mại với quy mô nhỏ trong giai đoạn 2027-2030, nhằm kiểm chứng tính khả thi trên thực tế trước khi triển khai nhân rộng.
Xin cảm ơn ông!
Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ của Luật Dầu khí năm 2022 và cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP. Đồng thời, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế.
Luật có 12 chương, 62 điều, cơ bản kế thừa các quy định của Luật Dầu khí năm 2022; đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định về điều tra cơ bản về dầu khí, lựa chọn nhà thầu, hợp đồng dầu khí, hoạt động dầu khí, ưu đãi đầu tư, kế toán, kiểm toán và chức năng, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan.
Luật Dầu khí (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ 1/3/2027.
Tin mới cập nhật


Sửa đổi Luật Dầu khí với tư duy thể chế kiến tạo phát triển

Sửa Luật Dầu khí: Mở nguồn lực mới cho an ninh năng lượng

Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi)
Đọc nhiều

Chủ động các biện pháp ứng phó mưa lũ, sạt lở đất sau bão số 4

Người thi hành công vụ cố ý gây thiệt hại phải bồi thường 30-50 tháng lương

Giám sát hàng hóa qua nền tảng thương mại điện tử ở cấp luật là cần thiết

EDAST 2026 bàn về phát triển kinh tế và chuyển đổi bền vững

Festival Thăng Long - Hà Nội 2026: Dòng chảy di sản giữa lòng Thủ đô

Infographic | Dông lốc và các biện pháp phòng tránh

Ngành da giày gỡ 'nút thắt' C/O để mở rộng thị trường xuất khẩu

Đề nghị xây dựng bộ chỉ số giám sát và cảnh báo sớm thị trường bất động sản

Xuất khẩu cà phê tăng mạnh, mở rộng sang thị trường châu Á




