Khơi thông nguồn lực tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Dù đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp nhiều khó khăn, đáng kể nhất là nguồn vốn.

Tiếp cận nguồn vốn khó khăn

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) luôn được xác định là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế khi chiếm tới khoảng 95% tổng số doanh nghiệp, tạo việc làm cho một lượng lớn lao động và đóng góp gần một nửa GDP. Tuy nhiên, do nội lực yếu, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh của các đối tượng này khá khó khăn.

Tại Tọa đàm “Khi thị trường đổi chiều và khả năng thích ứng của doanh nghiệp SMEs” do Tạp chí kinh tế Việt Nam tổ chức gần đây, GS. Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, đã đưa ra thông tin, tỷ lệ doanh nghiệp SMEs tiếp cận được vốn tín dụng chỉ khoảng 30 - 40%.

Khó tiếp cận vốn tín dụng là một điểm nghẽn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh: Hải Linh

Khó tiếp cận vốn tín dụng là một điểm nghẽn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh: Hải Linh

Cũng theo vị giáo sư này, nếu chia tỷ lệ trên cho tổng số doanh nghiệp SMEs thì con số tiếp cận được nguồn vốn tín dụng là rất nhỏ. Điều này lý giải vì sao nhiều doanh nghiệp khó tích lũy và mở rộng quy mô. Cũng đồng thời phản ánh, nguồn lực hỗ trợ bên ngoài dành cho khu vực này còn rất nhỏ so với nhu cầu tồn tại và phát triển.

Đứng ở góc độ doanh nghiệp, ông Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đồng quan điểm, thậm chí cho rằng con số thực tế thậm chí còn thấp hơn. “Hiện nay, theo đánh giá của chúng tôi, chỉ khoảng 20 - 25% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn vay ngân hàng”, ông Nam nói.

Chia sẻ thêm về sức khoẻ hiện tại của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông Tô Hoài Nam cho hay, đang ở trạng thái phục hồi nhưng mong manh. Sau những cú sốc của thị trường, chi phí đầu vào tăng, sức mua suy giảm, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng khát vốn nhưng lại không đủ điều kiện tiếp cận tín dụng, khiến khả năng chống chịu của khu vực SMEs ngày càng suy yếu.

Thực tế cho thấy, ngay cả những doanh nghiệp có đơn hàng, có dòng tiền quay vòng tốt vẫn khó vay vốn nếu không đáp ứng đủ tiêu chuẩn về tài sản đảm bảo hay hồ sơ tài chính.

Cần sự vận động đồng thời của các bên

Nguyên nhân của vấn đề này, theo GS. Hoàng Văn Cường là tổng hợp của nhiều yếu tố. Trước hết, điểm yếu lớn nhất nằm ở chính nền tảng của doanh nghiệp. SMEs thường có quy mô nhỏ, vốn mỏng, quản trị tài chính chưa bài bản. Nhiều doanh nghiệp vẫn vận hành theo mô hình gia đình, hệ thống kế toán chủ yếu phục vụ mục đích thuế, chưa đáp ứng yêu cầu minh bạch và quản trị theo chuẩn ngân hàng, khiến hồ sơ tín dụng thiếu độ tin cậy.

Thứ hai, hệ thống tín dụng hiện vẫn sử dụng tiêu chuẩn cho doanh nghiệp có quy mô lớn để áp sang doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các yêu cầu về tài sản đảm bảo, báo cáo tài chính, lịch sử tín dụng… được thiết kế theo chuẩn mực cao, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể đáp ứng được.

Ở chiều ngược lại, ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, sử dụng nguồn vốn huy động từ người dân, nên yêu cầu an toàn luôn được đặt lên hàng đầu. Rủi ro từ một khoản vay nhỏ có thể không lớn, nhưng nếu xảy ra trên diện rộng sẽ ảnh hưởng đến cả hệ thống.

Ngoài ra, chi phí thẩm định và quản lý khoản vay giữa doanh nghiệp lớn và SMEs không chênh lệch nhiều, trong khi lợi nhuận mang lại từ khoản vay nhỏ thấp hơn. Đây cũng là một nguyên nhân khiến nhiều ngân hàng chưa thực sự mặn mà với phân khúc SMEs.

Một điểm nghẽn khác là hệ sinh thái hỗ trợ chưa hoàn chỉnh. Các quỹ bảo lãnh tín dụng, vốn được kỳ vọng là cầu nối giữa hai bên lại hoạt động chưa hiệu quả. Nguồn lực mỏng, cơ chế vận hành thiên về phòng thủ, thiếu niềm tin giữa các bên khiến công cụ này chưa phát huy vai trò.

Trước thực tế đó, cả hai chuyên gia đều cho rằng giải pháp hữu hiệu là sự thay đổi đồng bộ từ cả hai phía. GS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh, về phía ngân hàng, cần chuyển từ tư duy cho vay dựa trên tài sản đảm bảo sang đánh giá dựa trên dòng tiền và dữ liệu. Việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt là fintech, có thể giúp theo dõi dòng tiền theo thời gian thực, từ đó giảm phụ thuộc vào hồ sơ quá khứ.

Về phía doanh nghiệp, việc nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, chuyển đổi số là việc phải làm. Tuy nhiên, cần nhìn nhận đây là quá trình có chi phí, không thể diễn ra trong một sớm một chiều, nhất là với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ.

Ở tầm vĩ mô hơn, việc xây dựng một hệ sinh thái phù hợp hơn với SMEs là cần thiết, bao gồm: Khung pháp lý cho tín dụng số, cơ chế chia sẻ dữ liệu, tái cấu trúc các quỹ bảo lãnh theo hướng thị trường. “Đặc biệt, việc tái cấu trúc lại các quỹ bảo lãnh không chỉ giúp thông suốt cầu nối giữa doanh nghiệp và tổ chức tín dụng, về dài hạn có thể huy động thêm nguồn lực tham gia vào quá trình này, phục vụ cho sự phát triển”, GS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.

Chiếm 95% số lượng doanh nghiệp, đóng góp gần 50% GDP doanh nghiệp nhỏ và vừa đã và đang là đối tượng trọng tâm hỗ trợ phát triển của nền kinh tế.

 

 

Hải Linh
Bình luận

Đọc nhiều

Quảng Ngãi: Vững kinh tế nhờ thay đổi tư duy cây trồng

Quảng Ngãi: Vững kinh tế nhờ thay đổi tư duy cây trồng

Từ những diện tích đất đồi trồng keo và hoa màu kém hiệu quả, người dân xã miền núi Sơn Mai mạnh dạn chuyển đổi sang các loại cây có giá trị kinh tế cao, nâng thu nhập.
TP. Hồ Chí Minh: Doanh thu bán lẻ, dịch vụ tiêu dùng đạt gần 1,49 triệu tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh: Doanh thu bán lẻ, dịch vụ tiêu dùng đạt gần 1,49 triệu tỷ đồng

9 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng TP. Hồ Chí Minh đạt gần 1,49 triệu tỷ đồng, tăng 13,8%; CPI bình quân tăng 4,69%.
TP. Hồ Chí Minh thu hút 17,2 tỷ USD vốn FDI trong 9 tháng

TP. Hồ Chí Minh thu hút 17,2 tỷ USD vốn FDI trong 9 tháng

Đến ngày 20/9/2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút 17,2 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, gấp 4,2 lần cùng kỳ; vốn đăng ký mới của doanh nghiệp trong nước cũng tăng 23,3%.
TP. Hồ Chí Minh: Công nghiệp bứt phá, nhiều ngành tăng hai con số

TP. Hồ Chí Minh: Công nghiệp bứt phá, nhiều ngành tăng hai con số

Sản xuất công nghiệp TP. Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì đà tăng trong quý III/2026, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 10,9% so với cùng kỳ.
Infographic | 17,7 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong 9 tháng

Infographic | 17,7 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong 9 tháng

Du lịch Việt Nam bứt tốc, 9 tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 17,7 triệu lượt, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước.
Lạng Sơn đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, bảo vệ người tiêu dùng

Lạng Sơn đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, bảo vệ người tiêu dùng

Trong quý III/2026, Quản lý thị trường Lạng Sơn chú trọng giải quyết đơn thư, tuyên truyền pháp luật gắn với kiểm tra, xử lý vi phạm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Giới thiệu công nghệ 'Make in Việt Nam' ra thị trường thế giới

Giới thiệu công nghệ 'Make in Việt Nam' ra thị trường thế giới

Tại Diễn đàn Công nghệ số Việt Nam tại Hàn Quốc và Nhật Bản năm 2026, Vietnam Post đã giới thiệu các giải pháp công nghệ "make in Việt Nam" ra thị trường thế giới.
Du lịch tăng tốc khai thác dư địa, tạo đà đón 25 triệu khách quốc tế

Du lịch tăng tốc khai thác dư địa, tạo đà đón 25 triệu khách quốc tế

Ngành du lịch Việt Nam duy trì tăng trưởng trong 9 tháng năm 2026 cho thấy sức hấp dẫn của điểm đến đang được củng cố, hướng tới mục tiêu đón 25 triệu khách quốc tế.
Quảng Ninh: Thu hút đầu tư theo mô hình tăng trưởng xanh

Quảng Ninh: Thu hút đầu tư theo mô hình tăng trưởng xanh

Quảng Ninh định hướng dòng vốn vào nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển và các dự án hạ tầng môi trường.
Thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW: Tăng hiện diện thương hiệu, tạo sức hút cho du lịch

Thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW: Tăng hiện diện thương hiệu, tạo sức hút cho du lịch

Để đón 45-50 triệu khách quốc tế vào năm 2030 theo mục tiêu Nghị quyết 26-NQ/TW, ngành du lịch cần cạnh tranh bằng độ hiện diện của thương hiệu Việt Nam trên thị trường.