Tháo gỡ điểm nghẽn đưa công nghệ thực phẩm ra thị trường hiệu quả

PGS.TS Vũ Nguyên Thành đã chỉ ra rào cản, đồng thời đề xuất giải pháp thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa công nghệ chế biến thực phẩm từ nghiên cứu đến thị trường.

Trong bối cảnh ngành chế biến thực phẩm đứng trước áp lực cạnh tranh và yêu cầu đổi mới, việc đưa các kết quả nghiên cứu ra thị trường vẫn còn nhiều trở ngại. Từ thực tiễn làm việc với doanh nghiệp, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nguyên Thành đã chỉ ra những “điểm nghẽn” quan trọng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao và thương mại hóa công nghệ một cách hiệu quả, bền vững.

Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi trực tiếp với PGS.TS Vũ Nguyên Thành - Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm - Bộ Công Thương để chia sẻ rõ hơn về nội dung này.

PGS.TS Vũ Nguyên Thành - Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm - Bộ Công Thương chia sẻ về những “điểm nghẽn” trong quá trình đưa công nghệ chế biến thực phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Ảnh: Hải Trung.

PGS.TS Vũ Nguyên Thành - Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm - Bộ Công Thương chia sẻ về những “điểm nghẽn” trong quá trình đưa công nghệ chế biến thực phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Ảnh: Hải Trung.

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản xuất quy mô lớn

- Thưa PGS.TS Vũ Nguyên Thành, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học - công nghệ nói chung, cũng như trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, hiện vẫn chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm. Theo ông, đâu là khoảng cách lớn nhất khiến các công nghệ này chưa thể đi ra thị trường?

PGS.TS Vũ Nguyên Thành: Để một công nghệ có thể đi ra thị trường từ phòng thí nghiệm, cần phải trải qua rất nhiều công đoạn. Trước hết, quy mô phòng thí nghiệm thường chỉ dừng ở mức vài trăm gram hoặc vài kilogram cho mỗi mẻ thử nghiệm. Trong khi đó, khi chuyển sang sản xuất tại doanh nghiệp, quy mô có thể lên tới vài chục đến vài trăm tấn mỗi mẻ.

Do vậy, cần có một giai đoạn trung gian, được gọi là giai đoạn sản xuất thử nghiệm. Ở giai đoạn này, quy mô thường dao động từ vài trăm kilogram đến vài tấn cho mỗi mẻ. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam, cơ chế và điều kiện để triển khai các dây chuyền sản xuất thử nghiệm như vậy vẫn còn hạn chế. Đây là một trong những rào cản đầu tiên khiến công nghệ khó tiếp cận sản xuất thực tế.

Bên cạnh đó, để công nghệ được đưa vào sản xuất, thị trường phải chấp nhận, tức là sản phẩm phải có chỗ đứng trên thị trường. Nếu thị trường không chấp nhận thì công nghệ đó cũng không thể được ứng dụng. Vì vậy, cần có các nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường.

Ngoài ra, dù thị trường có nhu cầu, vẫn cần có nhà đầu tư tham gia. Khi đã có nhà đầu tư, sản phẩm tiếp tục phải đáp ứng các yêu cầu về cấp phép.

Tóm lại, để một nghiên cứu từ phòng thí nghiệm có thể đi ra thị trường, cần sự phối hợp của nhiều bên, bao gồm nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước.

Chia sẻ rủi ro trong chuyển giao công nghệ

- Trong quá trình chuyển giao công nghệ từ Viện Công nghiệp thực phẩm sang doanh nghiệp, bài toán rủi ro, chi phí và hiệu quả kinh tế thường được giải quyết như thế nào? Vai trò của Viện trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp đến giai đoạn thương mại hóa được thể hiện ra sao?

PGS.TS Vũ Nguyên Thành: Thông thường, với các công nghệ được Viện chuyển giao cho sản xuất, các công nghệ này đã phải trải qua quá trình thử nghiệm rất chặt chẽ nhằm bảo đảm không tồn tại các yếu tố gây mất an toàn về chất lượng cũng như an toàn thực phẩm. Đây là bước quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro ngay từ phía nghiên cứu.

Tiếp đó, khi doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng công nghệ, họ sẽ phải thực hiện các thủ tục liên quan đến đăng ký sản phẩm theo quy định. Trong quá trình này, Viện có vai trò hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt về mặt chuyên môn và hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật.

Có thể thấy, Viện và doanh nghiệp cùng chia sẻ rủi ro trong quá trình chuyển giao và triển khai công nghệ. Đồng thời, hai bên đều phải bảo đảm trách nhiệm cao nhất trong từng khâu, từ hoàn thiện công nghệ, tổ chức sản xuất đến đưa sản phẩm ra thị trường.

Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách an toàn, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và hiệu quả kinh tế. 

Nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp đang thay đổi mạnh mẽ

PGS.TS Vũ Nguyên Thành (đứng bên trái) nhấn mạnh vai trò của giai đoạn sản xuất thử nghiệm trong quá trình thương mại hóa công nghệ thực phẩm tại các cuộc họp ở Bộ Công Thương. Ảnh: Cấn Dũng.

PGS.TS Vũ Nguyên Thành (đứng bên trái) nhấn mạnh vai trò của giai đoạn sản xuất thử nghiệm trong quá trình thương mại hóa công nghệ thực phẩm tại các cuộc họp ở Bộ Công Thương. Ảnh: Cấn Dũng.

- Từ thực tiễn làm việc với nhiều doanh nghiệp, từ các tập đoàn lớn đến cơ sở sản xuất nhỏ, ông nhận thấy nhu cầu thực sự của doanh nghiệp đối với công nghệ chế biến hiện nay là gì? Có hay không sự “lệch pha” giữa nghiên cứu và nhu cầu thị trường?

PGS.TS Vũ Nguyên Thành: Qua quá trình làm việc với doanh nghiệp, có thể thấy rằng trong các giai đoạn trước đây, nhu cầu đối với khoa học và công nghệ chưa thực sự lớn. Nguyên nhân là bởi khi doanh nghiệp triển khai sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, họ thường tiếp cận các trang thiết bị đi kèm với công nghệ do nhà cung cấp chuyển giao. Khi xây dựng nhà máy, công nghệ gần như đã được “đóng gói” cùng thiết bị, vì vậy doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào mở rộng quy mô sản xuất và vẫn đạt được hiệu quả nhất định.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bối cảnh thị trường đã thay đổi rõ rệt. Hàng hóa Việt Nam không chỉ phục vụ thị trường nội địa mà còn tham gia xuất khẩu; đồng thời, sản phẩm nước ngoài cũng cạnh tranh trực tiếp tại thị trường trong nước. Điều này khiến nhu cầu về khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp gia tăng mạnh mẽ. Thực tế cho thấy, Viện ngày càng nhận được nhiều đề nghị hợp tác từ phía doanh nghiệp liên quan đến việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất.

Một trong những nhu cầu nổi bật hiện nay là tối ưu hóa quy trình sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả và giảm chi phí. Bên cạnh đó, doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến việc tận thu và khai thác các nguồn phế phụ phẩm trong quá trình sản xuất. Nếu trước đây, họ chủ yếu chú trọng đến sản phẩm đầu ra chính, thì nay việc tận dụng phụ phẩm để tạo ra giá trị gia tăng đã trở thành yêu cầu cấp thiết.

Việc khai thác hiệu quả toàn bộ chuỗi giá trị không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh về giá thành mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường. Đây cũng là một trong những hướng đi quan trọng để công nghệ chế biến thực phẩm gắn sát hơn với nhu cầu thực tiễn của thị trường, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng.

Cần chính sách dài hạn và cơ chế thử nghiệm linh hoạt

- Thưa ông, để rút ngắn hành trình từ phòng thí nghiệm đến thị trường, theo ông cần có những cơ chế, chính sách gì từ Trung ương và các cơ quan liên quan nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động chuyển giao và thương mại hóa công nghệ chế biến thực phẩm?

PGS.TS Vũ Nguyên Thành: Trước hết, cần xác định rõ rằng không phải công nghệ nào Việt Nam cũng có sẵn và cũng không phải cứ đầu tư là có thể có ngay kết quả. Do vậy, cách tiếp cận trong phát triển khoa học và công nghệ cần có sự thay đổi. Trước đây, chúng ta thường quan niệm rằng công nghệ có thể được phát triển trong thời gian ngắn, chỉ vài năm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy để xây dựng được nền tảng khoa học - công nghệ vững chắc cần thời gian dài hơn nhiều.

Có thể ví như quan điểm “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, đối với khoa học - công nghệ cần vài chục năm để tạo dựng nền tảng. Vì vậy, không nên quá vội vàng kỳ vọng rằng chỉ trong một vài năm đầu tư, thậm chí 5 năm là có thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Chỉ những công nghệ đã ở gần thị trường mới có thể cho kết quả nhanh, còn các công nghệ mới cần thời gian tích lũy và phát triển nền tảng.

Bên cạnh đó, để công nghệ có thể đi vào sản xuất, cần phải trải qua nhiều bước thử nghiệm. Quan trọng nhất là thử nghiệm ở quy mô lớn. Ở quy mô phòng thí nghiệm, các yếu tố kỹ thuật tương đối đơn giản. Tuy nhiên, khi chuyển sang quy mô bán công nghiệp, nhiều vấn đề mới phát sinh mà trong phòng thí nghiệm chưa xuất hiện, như các điều kiện môi trường hoặc những yếu tố liên quan đến kích thước và quy mô thiết bị. Những bài toán này bắt buộc phải được giải quyết ở giai đoạn thử nghiệm trung gian.

Chỉ sau khi hoàn thành giai đoạn sản xuất thử nghiệm và xác lập được các thông số kỹ thuật phù hợp, doanh nghiệp mới có thể ứng dụng vào sản xuất thực tế. Như vậy, về mặt công nghệ, cần đi theo lộ trình từ quy mô phòng thí nghiệm, sang quy mô sản xuất thử nghiệm, rồi mới đến thương mại hóa. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam, khó khăn lớn nhất đối với các nhà khoa học chính là giai đoạn sản xuất thử nghiệm. Chúng ta chưa có cách hiểu và cơ chế đầy đủ cho hoạt động này, cũng như chưa đánh giá đúng mức độ rủi ro của nó.

Phần lớn các chương trình, đề tài, dự án hiện vẫn tập trung vào nghiên cứu cơ bản hoặc chưa đầu tư tương xứng cho giai đoạn thử nghiệm. Đây là một khoảng trống lớn cần được khắc phục. Trong thời gian tới, kỳ vọng các cơ quan quản lý như Bộ Công Thương và Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ có những điều chỉnh, tạo điều kiện cho các nghiên cứu mang tính chiều sâu. Nhưng điều này hướng tới ứng dụng nhưng vẫn đảm bảo nền tảng khoa học vững chắc, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghệ Việt Nam.

Ngoài ra, cần có cơ chế rõ ràng cho hoạt động sản xuất thử nghiệm, đặc biệt là liên quan đến quản lý rủi ro. Hiện nay đã có đề xuất về cơ chế “sandbox”, tức là cho phép thử nghiệm trong môi trường kiểm soát nhằm giảm thiểu thiệt hại và trách nhiệm cho các bên tham gia. Tuy nhiên, cơ chế này vẫn chưa được triển khai trên thực tế. Trong thời gian tới, nếu được hoàn thiện và áp dụng hiệu quả, đây sẽ là công cụ quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Một vấn đề khác là cơ chế cấp phép cho các sản phẩm mới. Đối với những sản phẩm chưa từng có trên thị trường, quy trình cấp phép tại Việt Nam vẫn còn nhiều lúng túng. Trong khi đó, tại một số quốc gia như Nhật Bản hay Mỹ, việc tiếp cận và quản lý các sản phẩm hoàn toàn mới đã trở nên phổ biến. Vì vậy, cần xây dựng các cơ chế linh hoạt hơn để có thể nhanh chóng chấp nhận và đưa các sản phẩm mới ra thị trường, cả trong nước và quốc tế.

Những chính sách này sẽ góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nói riêng và công nghiệp Việt Nam nói chung.

- Trân trọng cảm ơn ông đã chia sẻ!

PGS.TS Vũ Nguyên Thành - Viện trưởng Viện Công nghiệp Thực phẩm (đơn vị nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực chế biến, bảo quản và phát triển công nghệ thực phẩm) cho rằng điểm nghẽn lớn nhất trong thương mại hóa công nghệ là thiếu giai đoạn sản xuất thử nghiệm, cơ chế chấp nhận rủi ro và chính sách dài hạn.

Ông nhấn mạnh, để rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý. Đồng thời, cần thúc đẩy nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu quy trình sản xuất, tận dụng phế phụ phẩm và nâng cao giá trị gia tăng trong toàn bộ chuỗi sản phẩm.

Thanh Thảo - Phương Lan
Bình luận

Tin mới cập nhật

Đọc nhiều

Kết luận 26 mở hướng ứng phó sụt lún, sạt lở Đồng bằng sông Cửu Long

Kết luận 26 mở hướng ứng phó sụt lún, sạt lở Đồng bằng sông Cửu Long

Kết luận 26-KL/TW đặt trọng tâm thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu, xử lý tận gốc sụt lún, sạt lở, hạn mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Cắt giảm thủ tục hành chính: Gỡ đúng 'điểm nghẽn' cho doanh nghiệp

Cắt giảm thủ tục hành chính: Gỡ đúng 'điểm nghẽn' cho doanh nghiệp

Cắt giảm thủ tục hành chính không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ mà còn gỡ các ‘điểm nghẽn’ về thời gian, dòng vốn, khơi thông nguồn lực cho sản xuất.
Phát hành trái phiếu quý I khởi sắc

Phát hành trái phiếu quý I khởi sắc

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp quý I/2026 khởi sắc trở lại, song áp lực lãi suất và khối lượng đáo hạn lớn là những yếu tố chi phối thị trường trong thời gian tới.
Đưa hàng hóa Việt Nam tham gia sâu vào hệ thống phân phối ASEAN

Đưa hàng hóa Việt Nam tham gia sâu vào hệ thống phân phối ASEAN

Sau hơn 30 năm tham gia ASEAN, hàng hóa Việt Nam đang mở rộng hiện diện và từng bước tham gia sâu hơn vào hệ thống phân phối khu vực.
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam xuất hiện các thị trường tiềm năng

Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam xuất hiện các thị trường tiềm năng

Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đang xuất hiện nhiều thị trường tiềm năng, giàu dư địa tăng trưởng.
Lợi nhuận doanh nghiệp tăng tốc, VN-Index được kỳ vọng vượt 2.300 điểm

Lợi nhuận doanh nghiệp tăng tốc, VN-Index được kỳ vọng vượt 2.300 điểm

VDSC dự báo lợi nhuận doanh nghiệp quý II/2026 tăng khoảng 18%, dẫn dắt bởi bất động sản, ngân hàng và nhóm hưởng lợi từ giá hàng hóa duy trì ở mức cao.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp lãnh đạo Tập đoàn Hayleys của Sri Lanka

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp lãnh đạo Tập đoàn Hayleys của Sri Lanka

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khuyến khích Tập đoàn Hayleys tiếp tục nghiên cứu đầu tư vào các lĩnh vực mà tập đoàn có thế mạnh và phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam.
Ra quân ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Ra quân ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ từ ngày 7/5 đến ngày 30/5/2026.
Diễn đàn Hợp tác Việt Nam - Sri Lanka: Quy tụ doanh nghiệp nhiều lĩnh vực

Diễn đàn Hợp tác Việt Nam - Sri Lanka: Quy tụ doanh nghiệp nhiều lĩnh vực

 Diễn đàn Hợp tác thương mại - đầu tư - du lịch Việt Nam - Sri Lanka quy tụ đông đảo doanh nghiệp hai nước hoạt động trong các lĩnh vực như du lịch, dịch vụ, hàng không…
Ra mắt Hiệp hội Mua bán và Sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam

Ra mắt Hiệp hội Mua bán và Sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam

Ngày 8/5/2026, tại Hà Nội diễn ra Đại hội thành lập Hiệp hội Mua bán và Sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam (VMAA).