Quy định EUDR và những thách thức đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt

Quy định chuỗi cung ứng không gây phá rừng và suy thoái rừng (EUDR) của Liên minh châu Âu đối với các doanh nghiệp xuất khẩu có hiệu lực từ 31/12/2024.
Tăng cường triển khai cơ chế CBAM: Ngành thép thích ứng để xuất khẩu bền vữngQuy định mới nhất về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật của một số thị trường xuất khẩu lớnXuất khẩu sầu riêng của Việt Nam tiếp tục phá kỷ lục

Theo đó, quy định của EU về chuỗi cung ứng không gây phá rừng và suy thoái rừng (EUDR) nhằm giảm thiểu nguy cơ các sản phẩm, chuỗi cung ứng liên quan đến phá rừng, suy thoái rừng được đưa vào thị trường EU hoặc xuất khẩu từ thị trường EU, góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm mất đa dạng sinh học trên toàn cầu. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ những sản phẩm không gây phá rừng và hợp pháp mới được nhập khẩu vào thị trường EU.

Thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp xuất khẩu

Doanh nghiệp Việt cần nhanh chóng thích ứng, có kế hoạch tuân thủ và hành động ngay để tránh tình trạng gián đoạn xuất khẩu khi quy định có hiệu lực.

Cụ thể, có 7 hàng hóa được lựa chọn ban đầu, gồm: dầu cọ, đậu nành, gỗ, gia súc, ca cao, cà phê, cao su và một số sản phẩm có nguồn gốc từ các hàng hóa trên. Danh sách các mặt hàng và sản phẩm sẽ được cập nhật thường xuyên.

Trong 7 nhóm mặt hàng bị cấm nhập khẩu vào EU nếu quá trình sản xuất gây mất rừng, Việt Nam có 3 nhóm hàng bị tác động chính, đó là cà phê, gỗ và cao su. Trong đó, cà phê chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ EUDR vì chiếm 55% kim ngạch xuất khẩu, khoảng hơn 1,1 tỷ USD; tiếp đến là mặt hàng gỗ (636 triệu USD); cao su (252 triệu USD).

Ông Hoàng Thành - Quản lý chương trình, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam - cho biết “Các mặt hàng trong lĩnh vực chăn nuôi cũng bị ảnh hưởng bởi EUDR. Do nhu cầu ngày càng tăng về thịt, sữa và các sản phẩm động vật khác đòi hỏi phải có những vùng đất rộng lớn để chăn nuôi, trồng cây thức ăn... dẫn đến nạn phá rừng trên diện rộng, phát thải khí nhà kính, ô nhiễm nguồn nước...”.

Quy định EUDR và những thách thức đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Việt Nam có 3 nhóm hàng bị tác động chính bởi Quy định EUDR, đó là cà phê, gỗ và cao su

Yêu cầu truy xuất nguồn gốc sản phẩm đến tận thửa đất, lô rừng là một trong những điểm khó nhất của EUDR. Tại Việt Nam, việc thực hiện yêu cầu này gặp phải những trở ngại

Cụ thể, diện tích cây cao su tại Việt Nam hiện khoảng 918 ngàn ha, 300 nghìn hộ tiểu điền tham gia trồng chiếm hơn 50%... thông tin về tình trạng giấy chứng nhận sử dụng đất của hộ trồng cao su cũng là một vấn đề nan giải. Còn với cà phê, 40% diện tích đất trồng cà phê tại Việt Nam đã được cấp chứng chỉ sản xuất bền vững, vấn đề tồn tại là diện tích mở rộng trên nền đất rừng kể từ sau năm 2003 đến nay chưa thể chứng nhận sử dụng đất. Với gỗ rừng trồng sản xuất, cả nước có 3,5 triệu ha rừng sản xuất, trên 60% số hộ trồng rừng đã được nhận giấy chứng nhận sử dụng đất, diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ bền vững hiện mới đạt khoảng dưới 10% tổng diện tích rừng sản xuất.

Hơn nữa, yêu cầu của EUDR là truy xuất nguồn gốc hàng hóa nghiêm ngặt đến tận thửa đất, lô rừng nơi hàng hóa đó được sản xuất. Việc định vị GPS/polygon cho từng mảnh vườn đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, gây khó khăn cho các hộ nông dân. Chuỗi giá trị của các sản phẩm nông nghiệp tại Việt Nam thường rất dài, với nhiều khâu trung gian, khiến việc truy xuất nguồn gốc trở nên phức tạp hơn. Việc thiếu một hệ thống dữ liệu thống nhất về đất đai, rừng và sản xuất nông nghiệp khiến việc đối chiếu thông tin và xác minh nguồn gốc gặp khó khăn.

Nói thêm về thách thức thực hiện EUDR ở Việt Nam, TS. Nguyễn Trung Kiên - Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) - cho rằng: “Chúng ta chưa có cơ chế, biện pháp phản hồi thông tin minh bạch, hoặc biện pháp hỗ trợ nông hộ nguy cơ cao không xâm lấn rừng và tham gia trồng phục hồi rừng. Chưa có đánh giá tổng thể về nguy cơ xã hội và thử nghiệm giải pháp can thiệp”.

Tăng tính cạnh tranh và uy tín trên thị trường quốc tế

Mặc dù nhiều thách thức, nhưng các chuyên gia cho rằng, cơ hội cho doanh nghiệp cũng lớn không kém nếu biết tận dụng lợi ích từ những yêu cầu này. Sản phẩm tuân thủ yêu cầu về EUDR và có chứng chỉ của Hội đồng quản lý rừng thế giới (FSC) sẽ làm tăng tính cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.

Quy định EUDR còn thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm một cách bài bản, minh bạch. Các doanh nghiệp sẽ phải xác định rõ nguồn gốc nguyên liệu, vị trí đất đai, và đảm bảo tuân thủ các quy định về môi trường. Điều này giúp việc quản lý chặt chẽ quá trình sản xuất giúp đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường EU. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng và thân thiện với môi trường, EUDR sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu này. Ngoài ra, việc xây dựng chuỗi cung ứng bền vững giúp doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định và lâu dài.

Hơn nữa, doanh nghiệp đáp ứng EUDR sẽ được đánh giá cao về trách nhiệm xã hội và môi trường. Điều này giúp xây dựng hình ảnh doanh nghiệp xanh, góp phần giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường. Việc tuân thủ EUDR sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng thích ứng với các quy định xanh khác của EU trong tương lai, như cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM).

Từ ngày 31/12/2024, quy định này bắt đầu áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức cũng như các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thành viên EU và tháng 6/2025 áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Kế đến, hàng hóa của Việt Nam sẽ bị cạnh tranh xuất khẩu và mất thị phần tại EU bởi đối thủ cạnh tranh đã sẵn sàng cho việc tuân thủ đầy đủ EUDR. Tiếp theo là hạn chế năng lực truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng. Trong đó, việc khó xác định vùng trồng hợp pháp ảnh hưởng đến kết quả đánh giá và phân loại rủi ro vùng trồng của EU theo quốc gia, vùng sản xuất.

Nguyễn Thanh
Bình luận

Đọc nhiều

Bắc Ninh khởi công Dự án Nhà ở xã hội gần 806 tỷ đồng

Bắc Ninh khởi công Dự án Nhà ở xã hội gần 806 tỷ đồng

Dự án Nhà ở xã hội tại Khu dân cư số 3, phường Đa Mai, thành phố Bắc Ninh chính thức khởi công trên diện tích khoảng 7.000m², tổng vốn đầu tư gần 806 tỷ đồng.
Xuất khẩu chè của Việt Nam tăng mạnh

Xuất khẩu chè của Việt Nam tăng mạnh

8 tháng năm 2026, giá bình quân xuất khẩu chè của Việt Nam đạt mức 1.777,7 USD/ tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Quảng Ninh: Tạo đà phát triển công nghiệp công nghệ cao

Quảng Ninh: Tạo đà phát triển công nghiệp công nghệ cao

TP. Quảng Ninh đang từng bước hoàn thiện hạ tầng và chính sách, tạo nền tảng thu hút đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao, công nghệ số và bán dẫn.
Thành phố Huế chủ động nguồn, lưới điện đáp ứng nhu cầu phụ tải

Thành phố Huế chủ động nguồn, lưới điện đáp ứng nhu cầu phụ tải

Nhu cầu điện tại TP. Huế tăng nhanh, phụ tải cực đại 8 tháng đầu năm 2026 đạt 449,2 MW, đặt yêu cầu đồng bộ nguồn, lưới điện, đáp ứng các dự án lớn trong thời gian tới.
Không khí sản xuất sôi động tại các nhà máy ở Bắc Ninh

Không khí sản xuất sôi động tại các nhà máy ở Bắc Ninh

Bức tranh công nghiệp Bắc Ninh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tại nhiều nhà máy, công nhân hăng say lao động, máy móc vận hành liên tục để đáp ứng các đơn hàng
Infographic | 8 tháng, kim ngạch thương mại Việt Nam - Canada đạt 6,9 tỷ USD

Infographic | 8 tháng, kim ngạch thương mại Việt Nam - Canada đạt 6,9 tỷ USD

8 tháng năm 2026, kim ngạch thương mại Việt Nam - Canada đạt 6,9 tỷ USD, trong đó, Việt Nam xuất siêu sang Canada gá trị đạt 3,66 tỷ USD.
Quảng Ninh: Tăng tốc đầu tư, khơi thông nguồn lực phát triển

Quảng Ninh: Tăng tốc đầu tư, khơi thông nguồn lực phát triển

Quảng Ninh đang tạo thêm động lực tăng trưởng từ du lịch, đầu tư công, thu hút đầu tư và chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 13% trong năm 2026.
Ưu tiên phát triển các sản phẩm cơ khí có dung lượng thị trường lớn

Ưu tiên phát triển các sản phẩm cơ khí có dung lượng thị trường lớn

Dư địa thị trường lớn nhưng không tự động trở thành năng lực sản xuất. Ngành cơ khí cần ưu tiên sản phẩm có nhu cầu cao, gắn với đơn hàng, chuyển giao công nghệ và nội địa hóa.
Người Việt chi hơn 11 tỷ đồng mua đèn Trung thu trực tuyến

Người Việt chi hơn 11 tỷ đồng mua đèn Trung thu trực tuyến

Trong khoảng một tháng trước Tết Trung thu năm 2026, người tiêu dùng Việt Nam đã chi hơn 11 tỷ đồng mua đèn Trung thu trên sàn thương mại điện tử.
Tiền gửi dân cư lập kỷ lục, hơn 11,2 triệu tỷ đồng

Tiền gửi dân cư lập kỷ lục, hơn 11,2 triệu tỷ đồng

Tiền gửi của dân cư tại các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 7/2026 đạt hơn 11,2 triệu tỷ đồng, tăng hơn 152.000 tỷ đồng.