Bảo vệ tầng ozone: Khi chính sách không thể đứng riêng

Bảo vệ tầng ozone đang vượt khỏi phạm vi một chính sách môi trường, trở thành bài toán liên ngành, từ công nghệ, năng lượng đến xây dựng và đào tạo nhân lực.

Đổi môi chất không chỉ là đổi một loại khí

Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone được thông qua năm 1985, Nghị định thư Montreal ra đời năm 1987, thiết lập cơ chế kiểm soát và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone trên toàn cầu. Năm 2016, các bên tiếp tục thông qua Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, đưa hydrofluorocarbon (HFC) - nhóm chất không làm suy giảm tầng ozone nhưng nhiều loại có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần. 

Hệ thống thông gió được tối ưu góp phần tiết kiệm năng lượng, giảm sử dụng HCFC/HFC và bảo vệ tầng ozone.

Hệ thống thông gió được tối ưu góp phần tiết kiệm năng lượng, giảm sử dụng HCFC/HFC và bảo vệ tầng ozone.

Năm 2026 đánh dấu 10 năm Kigali được thông qua, trong bối cảnh nhu cầu làm mát tiếp tục tăng do nhiệt độ, đô thị hóa, công nghiệp hóa và mức sống. Bài toán vì thế không chỉ là đáp ứng nhu cầu làm mát, mà còn phải giảm nhu cầu làm mát khi có thể, nâng hiệu quả năng lượng, chuyển đổi sang môi chất có tác động thấp hơn tới khí hậu và quản lý môi chất trong suốt vòng đời.

Theo bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Điều phối viên Ozone quốc gia, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, so với một số quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam đã xây dựng tương đối đầy đủ các quy định về quản lý vòng đời môi chất lạnh, lộ trình chuyển đổi công nghệ, hạn ngạch sử dụng và định hướng thay thế môi chất trong từng lĩnh vực. Nhưng có chính sách không đồng nghĩa với việc quá trình chuyển đổi đã diễn ra tương ứng ngoài thực tế. Bước ra khỏi văn bản, câu chuyện lập tức liên quan đến nhà sản xuất thiết bị, doanh nghiệp, chủ đầu tư công trình, người sử dụng, kỹ thuật viên, cơ sở thu gom, hệ thống thử nghiệm và nhiều cơ quan quản lý. Khi đó, bảo vệ tầng ozone không còn là câu chuyện của riêng ngành môi trường.

Chuyển đổi môi chất lạnh cũng không đơn giản là loại bỏ một loại khí và thay bằng loại khác. Theo bà Cúc, chuyển đổi công nghệ có thể kéo theo việc thiết kế lại thiết bị. Trong lĩnh vực điều hòa không khí di động, chẳng hạn, khi nghiên cứu định hướng chuyển từ R-134a sang HFO, các nhà sản xuất ô tô cho biết cần ít nhất 5 năm, thậm chí lâu hơn, để chuyển đổi thiết kế phù hợp.

Chi phí cũng là một rào cản. Ngay cả khi có nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, doanh nghiệp vẫn phải bỏ thêm kinh phí đáng kể. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, áp lực này càng rõ. Vì vậy, câu hỏi chính sách không chỉ là doanh nghiệp phải chuyển đổi như thế nào, mà còn là ai chia sẻ chi phí chuyển đổi và bằng cách nào để doanh nghiệp có động lực đi trước.

Một hướng tiếp cận khác là không chỉ làm cho thiết bị làm mát “xanh hơn”, mà giảm nhu cầu làm mát ngay từ đầu. Bà Cúc cho rằng, các giải pháp thiết kế thụ động, được tính toán ngay từ quá trình thiết kế công trình, có thể giúp giảm nhu cầu làm mát, cùng với việc nâng cao hiệu suất năng lượng của thiết bị. Nếu công trình hấp thụ ít nhiệt hơn, thông gió tốt hơn và phù hợp với điều kiện khí hậu, nhu cầu sử dụng điều hòa có thể giảm. Khi đó, năng lượng tiêu thụ giảm, quy mô thiết bị làm mát có thể giảm và áp lực sử dụng môi chất lạnh cũng giảm theo.

Đồng quan điểm về việc này, ông Nguyễn Công Thịnh, chuyên gia về môi trường xây dựng, tiết kiệm năng lượng và công trình xanh, cho rằng cách tiếp cận cần được mở rộng sang toàn bộ vòng đời công trình, thay vì chỉ nhìn vào giá thiết bị hoặc suất đầu tư ban đầu. Một thiết bị có giá thấp chưa chắc là lựa chọn kinh tế nếu trong suốt vòng đời tiêu thụ nhiều năng lượng, chi phí vận hành cao và tạo ra chi phí môi trường lớn hơn.

Khoảng trống nằm ở cuối vòng đời

Nếu đầu vào của quá trình chuyển đổi là công nghệ thì đầu ra lại đặt ra một bài toán khác: thiết bị cũ đi đâu và môi chất lạnh bên trong được xử lý thế nào? Theo bà Cúc, quy định hiện nay đã định hướng thu gom môi chất lạnh để tái sử dụng hoặc tái chế; chỉ khi không thể tái sử dụng, tái chế mới đưa đi tiêu hủy. Tuy nhiên, để quy định vận hành được cần một hệ thống thu gom thực tế. Một thiết bị có thể hoạt động 15-20 năm, thậm chí lâu hơn đối với thiết bị lớn. Những thiết bị được bán ra cách đây một thập kỷ hoặc lâu hơn hiện đang ở đâu? Khi bị loại bỏ, môi chất lạnh có được thu hồi hay đi thẳng vào dòng phế liệu?

Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề kinh tế. Người sử dụng có thể bán cả thiết bị cho cơ sở thu mua phế liệu với mức giá hấp dẫn hơn, trong khi chi phí thu hồi môi chất lạnh chưa đủ tạo động lực cho hoạt động thu gom. Bài toán vì thế quay trở lại trách nhiệm của nhà sản xuất và nhà nhập khẩu. Theo bà Cúc, cần nghiên cứu cơ chế để trách nhiệm xử lý sản phẩm sau vòng đời được tính ngay từ khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Tuy nhiên, đây là vấn đề liên quan đến nhiều chính sách và không dễ giải quyết bằng một quy định đơn lẻ. Nếu không quản lý được đoạn cuối vòng đời, một phần thành quả của quá trình chuyển đổi công nghệ có thể bị bỏ ngỏ.

Một nghịch lý khác cũng cần được nhìn thẳng đó là môi chất lạnh mới có thể tốt hơn cho môi trường nhưng lại đặt ra yêu cầu cao hơn về an toàn. PGS.TS. Nguyễn Việt Dũng, Phó Hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng dưới sức ép của Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, công nghệ làm mát trong khoảng 10 năm tới sẽ có những thay đổi đáng kể. Những môi chất lạnh mới, đặc biệt các môi chất có đặc tính gần với môi chất tự nhiên, có thể có tính dễ cháy cao hơn. Điều này đặt ra yêu cầu mới về thiết kế, lắp đặt, vận hành và bảo trì. Chuyển đổi công nghệ, vì vậy, không thể tách khỏi chuyển đổi năng lực con người. 

Theo ông Dũng, “không thể bảo vệ tầng ozone bằng một chính sách đứng riêng”. Lĩnh vực làm mát liên quan đến nhiều bộ, ngành, nếu các chính sách được triển khai tách rời, doanh nghiệp có thể phải đáp ứng nhiều yêu cầu nhưng thiếu một lộ trình thống nhất. Ngược lại, nếu chính sách về môi chất lạnh được kết nối với hiệu suất năng lượng, công trình xanh, tín dụng xanh, đào tạo nghề và phát triển công nghệ, quá trình chuyển đổi có thể tạo hiệu quả lớn hơn. “Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo, tạo khuôn khổ để doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tổ chức nghiên cứu cùng tham gia phát triển công nghệ lạnh xanh tại Việt Nam. Đây cũng là điểm quyết định khoảng cách giữa ‘có chính sách’ và ‘chính sách tạo ra thay đổi’”, ông Dũng nói.

Câu chuyện công trình xanh cũng cho thấy rõ yêu cầu kết nối chính sách. Ông Nguyễn Công Thịnh cho rằng Việt Nam cần tiếp tục một lộ trình mạnh hơn đối với công trình xanh và công trình hiệu quả năng lượng. Quyết định 2530 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 1.200 công trình xanh. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là số lượng công trình được chứng nhận. Nếu thiết kế thụ động, vật liệu phù hợp, hiệu suất năng lượng cao và quản lý vòng đời chưa trở thành yêu cầu phổ biến ngay từ khâu chuẩn bị dự án, số lượng công trình xanh chưa phản ánh đầy đủ mức độ thay đổi của thị trường xây dựng.

Theo ông Thịnh, kinh nghiệm từ chương trình dán nhãn năng lượng cho thiết bị cho thấy công cụ thông tin có thể tạo thay đổi trong lựa chọn của thị trường. Khi người mua có thông tin rõ ràng về hiệu suất, chủ đầu tư có thêm cơ sở lựa chọn; khi tiêu chuẩn và quy chuẩn rõ ràng, doanh nghiệp cũng có động lực phát triển sản phẩm phù hợp. Việc phát triển hệ thống phòng thử nghiệm trong nước cũng có ý nghĩa tương tự. Nếu doanh nghiệp có thể thử nghiệm thiết bị, vật liệu trong nước với chi phí hợp lý, rào cản đối với công nghệ mới sẽ giảm.

Bảo vệ tầng ozone không còn là câu chuyện của riêng môi trường mà liên quan trực tiếp đến công nghệ, năng lượng, xây dựng, sản xuất, đào tạo và kinh tế. Theo các chuyên gia, chính sách cần được triển khai theo tư duy vòng đời và liên ngành. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là thay thế môi chất lạnh mà còn giảm nhu cầu làm mát, nâng hiệu suất năng lượng và hạn chế tác động môi trường.

Nguyễn Hạnh
Bình luận

Tin mới cập nhật

Đọc nhiều

Mở cơ hội ứng dụng AI và phát triển nhân lực cho ngành hàng không vũ trụ Việt Nam

Mở cơ hội ứng dụng AI và phát triển nhân lực cho ngành hàng không vũ trụ Việt Nam

Các biên bản ghi nhớ góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành hàng không vũ trụ Việt Nam, đặc biệt tập trung nghiên cứu tiềm năng ứng dụng AI và phát triển nguồn nhân lực.
Đề xuất lập VietCham - 'trạm ra-đa thị trường' hỗ trợ doanh nghiệp Việt vươn ra toàn cầu

Đề xuất lập VietCham - 'trạm ra-đa thị trường' hỗ trợ doanh nghiệp Việt vươn ra toàn cầu

Trong Chương trình “Go Global”, VCCI đề xuất thành lập VietCham-Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam tại các thị trường nước ngoài, để hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra toàn cầu.
Nhiều hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2026 tại Học viện Chính trị

Nhiều hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2026 tại Học viện Chính trị

Hội Phụ nữ khối Khoa (Khoa Nhà nước và Pháp luật - Học viện Chính trị) tổ chức nhiều hoạt động nhằm hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam (9/11), tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ bí mật quân sự, an toàn thông tin số.
Hoàn thiện thể chế, mở đường cho CCS, CCUS tại Việt Nam

Hoàn thiện thể chế, mở đường cho CCS, CCUS tại Việt Nam

Việt Nam đã hình thành nền tảng chính sách cho công nghệ CCUS, nhưng cần sớm hoàn thiện pháp luật, cơ chế tài chính và hạ tầng để đưa công nghệ vào thực tiễn.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng cơ hội đầu tư, đón làn sóng vốn công nghệ cao

TP. Hồ Chí Minh mở rộng cơ hội đầu tư, đón làn sóng vốn công nghệ cao

Hội nghị Thượng đỉnh 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy đầu tư công nghệ cao, kết nối chuỗi giá trị ASEAN và tăng trưởng bền vững.
Xe máy điện ‘lên sàn’ TikTok Shop: Mở dư địa tăng trưởng từ đại lý

Xe máy điện ‘lên sàn’ TikTok Shop: Mở dư địa tăng trưởng từ đại lý

Từ mô hình bán hàng trực tuyến với mạng lưới đại lý của YADEA, TikTok Shop đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành xe máy điện trên nền tảng thương mại điện tử.
Giảm phụ thuộc vào một số ít thị trường xuất nhập khẩu

Giảm phụ thuộc vào một số ít thị trường xuất nhập khẩu

Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc đề nghị các bộ, ngành nghiên cứu giải pháp đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, nâng cao hiệu quả quản trị thương mại.
Infographic | Hơn 160 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng

Infographic | Hơn 160 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng

10 tháng năm 2026, cả nước có hơn 160 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới.
IRIFF 2026: Kết nối hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

IRIFF 2026: Kết nối hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Diễn đàn mở rộng kết nối hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam và các nước (IRIFF 2026) sẽ được tổ chức tại Hà Nội, ngày 5, 6/11.
Từ ngày 5-15/11: Tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Từ ngày 5-15/11: Tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám sẽ tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám và hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam.