
Tháo gỡ rào cản tín dụng, thúc đẩy đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ
Khó tiếp cận thị trường, nguồn vốn
Theo khảo sát của Cục Công nghiệp, Việt Nam hiện có hơn 7.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, năng lực công nghệ và quản trị của phần lớn doanh nghiệp còn hạn chế. Mới hơn 30% doanh nghiệp đầu tư máy móc hiện đại, tự động hóa; chưa đến 10% ứng dụng robot trong sản xuất; chỉ khoảng 1-2% áp dụng các công cụ quản trị tiên tiến như Lean, TPM và chưa đến 20% áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế. Những con số này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa năng lực sản xuất hiện tại của nhiều doanh nghiệp trong nước với các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và quản trị của những tập đoàn đa quốc gia. Khi chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của khách hàng, doanh nghiệp khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, ngay cả khi có cơ hội tiếp cận thị trường.

Gỡ nút thắt vốn cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đổi mới công nghệ.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Chu Việt Cường- Phòng Công nghiệp hỗ trợ, Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, dù được xác định là nền tảng của công nghiệp quốc gia, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này có quy mô nhỏ và vừa (SMEs), năng lực tài chính hạn chế, trình độ công nghệ và quản trị chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu. “Đáng chú ý, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận thị trường, nguồn vốn, công nghệ và nhân lực. Bên cạnh sức ép cạnh tranh từ các quốc gia có nền công nghiệp phát triển, nhiều doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam thường mang theo hệ sinh thái nhà cung ứng quen thuộc, khiến doanh nghiệp nội địa khó tham gia sâu vào chuỗi sản xuất”- ông Chu Việt Cường chỉ ra.
Trên thực tế, công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, trong khi khả năng tiếp cận các chính sách ưu đãi về tín dụng, thuế và đất đai của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế. Việc phân bổ ngân sách theo dự toán hàng năm cũng gây khó khăn cho các chương trình cần triển khai liên tục trong nhiều năm. Trong khi đó, các dự án công nghiệp có thời gian thu hồi vốn kéo dài, lợi nhuận mỏng. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ, nên thiếu tiềm lực tài chính để tự đầu tư đồng bộ máy móc, công nghệ chế tạo hiện đại hay hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Một vấn đề khác là công nghiệp hỗ trợ vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. “Trong một số lĩnh vực như thép hợp kim, hóa chất, vải dệt, nhựa kỹ thuật và cao su kỹ thuật, tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu lên tới 70-80%. Điều này khiến doanh nghiệp dễ bị ảnh hưởng khi giá nguyên liệu biến động hoặc chuỗi cung ứng quốc tế gián đoạn, đồng thời gây khó khăn trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ của các hiệp định thương mại tự do”- ông Chu Việt Cường nói.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Hồ Ngọc Toàn, Phó Tổng giám đốc Công ty CP Thiết bị và giải pháp cơ khí Automech nêu thực tế, với mức đầu tư 1 nhà máy mới có diện tích khoảng 2ha, riêng chi phí mặt bằng đất đai tại khu công nghiệp doanh nghiệp đã tốn rất nhiều chi phí và quá sức đối với một doanh nghiệp tư nhân.
“Có doanh nghiệp đầu tư xong hạ tầng, nhà xưởng là hết vốn mua máy móc và thuê nhân công, khi đó doanh nghiệp lại phải huy động vốn ngân hàng. Đến khi có vốn mua máy móc và công nghệ để sản xuất, doanh nghiệp lại phải xin chứng chỉ, chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm (quá trình này thường mất vài năm), khi có sản phẩm ra thị trường đã trở thành lạc hậu, không còn phù hợp với yêu cầu của đối tác. Cùng với áp lực đến lúc phải trả lãi vay vốn đè nặng”, ông Hồ Ngọc Toàn chia sẻ.
Phát triển chuỗi cung ứng, nâng năng lực doanh nghiệp Việt
Theo Cục Công nghiệp, Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/5/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 -2035 đặt mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Để chương trình tạo chuyển biến thực chất, yêu cầu quan trọng là chuyển từ hỗ trợ phân tán sang tập trung nguồn lực vào những ngành, sản phẩm và doanh nghiệp có khả năng tạo sức lan tỏa.
Cùng với hỗ trợ tài chính, cần thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học, đưa sản phẩm thử nghiệm và vật liệu mới vào sản xuất thực tế. Các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ cũng cần có thời gian triển khai đủ dài, khoảng 3-5 năm, để doanh nghiệp có thể theo đuổi những dự án mang tính nền tảng.
Một hướng đi quan trọng khác là hình thành chuỗi cung ứng dựa trên doanh nghiệp đầu chuỗi. Theo đó, cần xác định các doanh nghiệp dẫn dắt, khảo sát nhu cầu mua hàng, đánh giá năng lực nhà cung ứng trong nước và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn lớn.
Các doanh nghiệp đầu chuỗi, đặc biệt là những tập đoàn lớn trong nước, cần phát huy vai trò hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực và phát triển mạng lưới nhà cung ứng. Việc tư vấn, cải tiến sản xuất phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của đơn hàng, qua đó giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa từng bước đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị..
Về phía doanh nghiệp, hiệp hội, ông Nguyễn Vân, đại diện Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (HANSIBA), cho biết hiệp hội đang đề xuất với Chính phủ và các ngân hàng nhà nước, trong đó có Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) về việc bố trí nguồn vốn vay dài hạn với lãi suất thấp cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Doanh nghiệp cũng được khuyến nghị tận dụng tối đa các gói tín dụng ưu đãi và chính sách hỗ trợ tài chính hiện hành của Bộ Công Thương và Chính phủ để giảm áp lực chi phí đầu tư.
Với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, vốn không chỉ là nguồn lực để mua sắm máy móc mà còn quyết định việc có đủ sức bước vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn hay không. Khi tín dụng dài hạn lãi suất thấp, các quỹ hỗ trợ và chính sách ưu đãi cùng đến được với doanh nghiệp một cách kịp thời, khả năng nâng cấp công nghệ, đẩy mạnh nội địa hóa của khối doanh nghiệp trong nước sẽ có thêm nền tảng vững chắc, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng tự chủ và bền vững cho nền kinh tế.
Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, nhấn mạnh yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được xác định giữ vai trò trung tâm trong sản xuất, đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường; Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện thể chế, hỗ trợ nguồn lực, khoa học công nghệ và phát triển thị trường.
Tin mới cập nhật


Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vươn sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Nghị quyết số 10-NQ/TW: Kết nối FDI, nâng tầm công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035: Tạo chuyển biến thực chất từ nội địa hoá
Đọc nhiều

Quỹ Toyota Việt Nam bàn giao công trình nước sạch tại Cao Bằng

Điện mặt trời giúp châu Âu giảm phụ thuộc vào khí đốt

Khám phá sắc màu văn hóa đồng bào Chăm Nam Bộ giữa lòng Thủ đô

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trải nghiệm công nghệ logistics xanh

Thành phố Huế: Bài toán gia tăng giá trị từ du lịch tàu biển

Thương mại điện tử mở lối cho đặc sản Cao Bằng vươn xa

Chọn thức ăn cho thú cưng: Đừng chỉ dựa vào quảng cáo

Đà Nẵng tìm động lực tăng trưởng từ thương mại điện tử xuyên biên giới

Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp




