Xây dựng quỹ tiết kiệm năng lượng từ kinh nghiệm quốc tế

Lựa chọn mô hình phù hợp, phân định rõ trách nhiệm và quản trị minh bạch là những bài học quốc tế cho việc xây dựng quỹ tiết kiệm năng lượng tại Việt Nam.

Chọn mô hình phù hợp

Lựa chọn mô hình phù hợp, phân định rõ trách nhiệm và xây dựng cơ chế quản trị minh bạch là những vấn đề cần làm rõ khi xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại Việt Nam. Kinh nghiệm quốc tế mang đến nhiều gợi mở, song hiệu quả vận dụng phụ thuộc vào điều kiện thực tiễn và năng lực tổ chức thực hiện.

Trao đổi bên lề hội thảo “Tham vấn Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” do Bộ Công Thương tổ chức mới đây, GS.TS Abul Quasem Al-Amin, đại diện Trung tâm Nghiên cứu chính sách khí hậu và môi trường châu Á (CACEPS) và Trung tâm Nghiên cứu châu Á Harvard (Đại học Harvard) cho biết, nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát, đánh giá mô hình hoạt động của 5 quỹ tại 5 quốc gia, gồm Thái Lan, Bulgaria, Ấn Độ, Malaysia và Tunisia. Quá trình nghiên cứu tập trung làm rõ đặc điểm thiết kế, cơ chế vận hành, các hình thức hỗ trợ cũng như khả năng vận dụng kinh nghiệm quốc tế vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Kinh nghiệm quốc tế gợi mở cách xây dựng quỹ tiết kiệm năng lượng phù hợp với Việt Nam.

Kinh nghiệm quốc tế gợi mở cách xây dựng quỹ tiết kiệm năng lượng phù hợp với Việt Nam.

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm chuyên gia đã rút ra 4 thông điệp quan trọng đối với quá trình xây dựng và vận hành Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại Việt Nam.

Thứ nhất, không có một mô hình quỹ duy nhất có thể áp dụng cho tất cả các quốc gia. Mỗi quỹ được hình thành nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể, trong điều kiện kinh tế, thể chế và thị trường khác nhau. Vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu, lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp thay vì sao chép nguyên mẫu mô hình đã được triển khai tại các nước.

Thứ hai, cần phân định rõ vai trò giữa quỹ và hệ thống ngân hàng thương mại. Theo đó, ngân hàng đảm nhiệm việc thẩm định, quyết định cho vay và chịu trách nhiệm về rủi ro tín dụng. Trong khi đó, quỹ đóng vai trò bổ sung nguồn vốn có chi phí thấp, hỗ trợ kỹ thuật, chuẩn bị dự án và chia sẻ rủi ro, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các dự án tiết kiệm năng lượng tiếp cận nguồn tài chính.

Thứ ba, khả năng huy động vốn thông qua hiệu ứng đòn bẩy tài chính có thể được hình thành và nâng cao theo thời gian. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các quỹ dao động từ 0,4-3,4 lần. Điều này cho thấy hiệu quả huy động nguồn lực không nhất thiết đạt được ngay từ giai đoạn đầu mà có thể từng bước cải thiện trong quá trình vận hành.

Thứ tư, quy chế hoạt động là nền tảng quan trọng nhưng chưa phải yếu tố duy nhất quyết định thành công của quỹ. Bên cạnh việc xây dựng khung pháp lý và cơ chế quản trị phù hợp, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức, phương thức triển khai và sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Phân tích kinh nghiệm cụ thể, theo GS.TS. Abul Quasem Al-Amin, mỗi quốc gia có cách tiếp cận riêng trong thiết kế và vận hành các công cụ tài chính hỗ trợ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Tại Thái Lan, mô hình Quỹ quay vòng tiết kiệm năng lượng (EERF) cung cấp nguồn vốn ưu đãi thông qua các ngân hàng thương mại, tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho các dự án. Trong khi đó, Bulgaria chú trọng mô hình quỹ có tư cách pháp nhân độc lập, cơ chế quản lý chuyên nghiệp và yêu cầu minh bạch tài chính.

Đối với Ấn Độ, điểm đáng chú ý là cơ chế chia sẻ rủi ro một phần, thông qua bảo lãnh một phần khoản vay cho các dự án sử dụng năng lượng hiệu quả, kết hợp với các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật.

Tại Malaysia, mô hình huy động sự tham gia của nhiều chủ thể, trong đó có cơ quan chuyên môn thực hiện chứng nhận, ngân hàng cung cấp tín dụng và tổ chức bảo lãnh. GS.TS. Abul Quasem Al-Amin cho hay, ông từng trực tiếp tham gia một số hoạt động tư vấn tại Malaysia, qua đó có điều kiện quan sát những khó khăn trong quá trình triển khai cũng như vai trò của các cơ quan hoạch định chính sách.

Trong khi đó, Tunisia có kinh nghiệm vận hành quỹ chuyên biệt nhằm thúc đẩy sử dụng năng lượng hiệu quả, với sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan trong triển khai các hoạt động hỗ trợ.

“Việt Nam cần lựa chọn và kết hợp những yếu tố phù hợp từ các mô hình quốc tế, đặc biệt là việc phân định trách nhiệm giữa quỹ và ngân hàng, thiết kế cơ chế chia sẻ rủi ro, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng bộ máy quản lý chuyên nghiệp. Đây là những yếu tố quan trọng để Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả từng bước vận hành hiệu quả, huy động thêm nguồn lực cho các dự án tiết kiệm năng lượng”, GS.TS. Abul Quasem Al-Amin nhấn mạnh.

Từng bước nâng hiệu quả vận hành

Tiếp tục phân tích kinh nghiệm quốc tế, GS.TS. Abul Quasem Al-Amin cho rằng, trong số 5 quốc gia được nhóm nghiên cứu lựa chọn, gồm Thái Lan, Bulgaria, Ấn Độ, Malaysia và Tunisia, hai mô hình của Thái Lan và Malaysia được đánh giá có nhiều điểm đáng chú ý, phù hợp để Việt Nam nghiên cứu sâu hơn trong quá trình xây dựng và vận hành Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Theo GS.TS. Abul Quasem Al-Amin, mô hình của Thái Lan có nhiều nét tương đồng với định hướng xây dựng cơ sở pháp lý và cơ chế hoạt động của quỹ mà Việt Nam đang nghiên cứu. Điểm nổi bật là sự tham gia của các ngân hàng thương mại trong quá trình thẩm định khách hàng, đánh giá dự án và quyết định cấp tín dụng.

Chọn lọc kinh nghiệm quốc tế giúp Việt Nam xây dựng quỹ tiết kiệm năng lượng hiệu quả.

Chọn lọc kinh nghiệm quốc tế giúp Việt Nam xây dựng quỹ tiết kiệm năng lượng hiệu quả.

“Cơ chế này giúp tận dụng năng lực thẩm định và hệ thống quản lý rủi ro sẵn có của các ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện huy động thêm nguồn lực tài chính cho các dự án tiết kiệm năng lượng. Kinh nghiệm từ Thái Lan cũng cho thấy vai trò của nguồn vốn hỗ trợ ban đầu trong việc thu hút sự tham gia của các ngân hàng thương mại và thúc đẩy dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, GS.TS. Abul Quasem Al-Amin chia sẻ.

Tuy nhiên, GS.TS. Abul Quasem Al-Amin nhấn mạnh, không có mô hình nào hoàn toàn phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng về thể chế, nguồn lực tài chính và năng lực tổ chức thực hiện. Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cần hướng tới lựa chọn, kết hợp những yếu tố phù hợp thay vì áp dụng nguyên mẫu một mô hình cụ thể.

Trên cơ sở đó, nhóm chuyên gia kiến nghị Việt Nam tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hai mô hình của Thái Lan và Malaysia, đặc biệt là cơ chế huy động vốn, phân định trách nhiệm giữa các cơ quan tham gia và phương thức chia sẻ rủi ro trong quá trình triển khai.

GS.TS. Abul Quasem Al-Amin cho rằng, một trong những yếu tố quan trọng khi đánh giá hiệu quả hoạt động của các quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là khả năng huy động thêm nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng và khu vực tư nhân thông qua hiệu ứng đòn bẩy tài chính.

Theo chuyên gia, hiệu quả huy động vốn cần được chứng minh bằng kết quả thực tế sau khi quỹ được thành lập và đi vào vận hành, thay vì chỉ dựa trên những giả định hoặc kỳ vọng ban đầu.

Một bài học quan trọng khác được GS.TS. Abul Quasem Al-Amin nhấn mạnh là năng lực quản trị và điều hành quỹ. Theo đó, hiệu quả quản lý không chỉ tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động mà còn góp phần củng cố niềm tin của các ngân hàng, doanh nghiệp, nhà đầu tư và những bên liên quan.

“Trong bối cảnh thị trường tài chính và môi trường đầu tư còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, việc xây dựng một cơ chế quản trị chuyên nghiệp, minh bạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng”, GS.TS. Abul Quasem Al-Amin đánh giá.

Cũng theo GS.TS. Abul Quasem Al-Amin, quỹ cần có cơ chế phân cấp, phân quyền và thẩm quyền quyết định rõ ràng; bộ máy quản lý có năng lực chuyên môn; hệ thống báo cáo tài chính minh bạch và cơ chế công khai thông tin phù hợp. Đây là những điều kiện cần thiết để nâng cao trách nhiệm giải trình, bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và hạn chế rủi ro trong quá trình vận hành.

Bên cạnh yêu cầu về quản trị, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy việc triển khai quỹ cần có lộ trình phù hợp, tránh mở rộng quy mô quá nhanh ngay từ giai đoạn đầu.

GS.TS. Abul Quasem Al-Amin cho hay, tại Thái Lan, việc cung cấp vốn được triển khai theo từng đợt, trong khi Malaysia thực hiện chương trình hỗ trợ theo các giai đoạn, gắn với khả năng huy động và sử dụng nguồn lực tài chính.

Từ thực tiễn này, chuyên gia khuyến nghị Việt Nam nên lựa chọn cách tiếp cận thận trọng, bắt đầu với quy mô phù hợp, từng bước hoàn thiện cơ chế vận hành trước khi mở rộng phạm vi và đối tượng hỗ trợ.

Việc triển khai theo lộ trình sẽ tạo điều kiện đánh giá hiệu quả các công cụ tài chính, kiểm chứng năng lực quản trị, xác định những hạn chế phát sinh và kịp thời điều chỉnh chính sách.

Theo chuyên gia, Việt Nam có lợi thế khi có thể tham khảo kinh nghiệm của những quốc gia đã triển khai các mô hình tương tự, qua đó rút ngắn quá trình nghiên cứu, hạn chế những rủi ro có thể dự báo và lựa chọn phương án phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Kinh nghiệm quốc tế gợi mở cho Việt Nam cách xây dựng quỹ tiết kiệm năng lượng, từ lựa chọn mô hình đến huy động vốn và tổ chức vận hành hiệu quả.

Bình Minh
Bình luận

Tin mới cập nhật

Đọc nhiều

Tháo gỡ rào cản tín dụng, thúc đẩy đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ

Tháo gỡ rào cản tín dụng, thúc đẩy đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ

Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ còn khó tiếp cận vốn, công nghệ và nguyên liệu. Khơi thông nguồn lực là điều kiện để giúp doanh nghiệp nâng năng lực sản xuất, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Quỹ Toyota Việt Nam bàn giao công trình nước sạch tại Cao Bằng

Quỹ Toyota Việt Nam bàn giao công trình nước sạch tại Cao Bằng

Quỹ Toyota Việt Nam vừa phối hợp với Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường bàn giao công trình nước sạch cho Trường Phổ thông dân tộc bán trú TH&THCS Vũ Nông, xã Tĩnh Túc, tỉnh Cao Bằng.
Điện mặt trời giúp châu Âu giảm phụ thuộc vào khí đốt

Điện mặt trời giúp châu Âu giảm phụ thuộc vào khí đốt

Điện mặt trời giúp châu Âu tiết kiệm hàng chục tỷ euro chi phí nhập khẩu khí đốt, đồng thời góp phần giảm tác động của biến động giá nhiên liệu hóa thạch.
Khám phá sắc màu văn hóa đồng bào Chăm Nam Bộ giữa lòng Thủ đô

Khám phá sắc màu văn hóa đồng bào Chăm Nam Bộ giữa lòng Thủ đô

Chương trình Tết Raya Aidil Fitri, 'Bản tình ca làng Chăm' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam giúp du khách khám phá văn hóa đồng bào Chăm Nam Bộ tại Hà Nội.
Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trải nghiệm công nghệ logistics xanh

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trải nghiệm công nghệ logistics xanh

Trong không gian trải nghiệm “Trạm kết nối Gen Z” của Vietnam Post các sinh viên của Đại học Quốc gia Hà Nội được trải nghiệm các giải pháp về logistics xanh.
Thành phố Huế: Bài toán gia tăng giá trị từ du lịch tàu biển

Thành phố Huế: Bài toán gia tăng giá trị từ du lịch tàu biển

Khách tàu biển đến Huế tăng, nhưng tỷ lệ rời tàu đạt khoảng 30%; bài toán đặt ra là kéo dài trải nghiệm, tăng chi tiêu và đưa nguồn thu rộng hơn cho kinh tế địa phương.
Thương mại điện tử mở lối cho đặc sản Cao Bằng vươn xa

Thương mại điện tử mở lối cho đặc sản Cao Bằng vươn xa

Từ phiên livestream tối 23/10, nhiều sản phẩm tiêu biểu của Cao Bằng có thêm cơ hội tiếp cận khách hàng, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị thương hiệu.
Chọn thức ăn cho thú cưng: Đừng chỉ dựa vào quảng cáo

Chọn thức ăn cho thú cưng: Đừng chỉ dựa vào quảng cáo

Người nuôi chó, mèo cần quan tâm đến thành phần dinh dưỡng, thông tin trên bao bì và nhu cầu của vật nuôi theo từng giai đoạn phát triển, thay vì chỉ lựa chọn thức ăn theo quảng cáo hoặc thói quen.
Đà Nẵng tìm động lực tăng trưởng từ thương mại điện tử xuyên biên giới

Đà Nẵng tìm động lực tăng trưởng từ thương mại điện tử xuyên biên giới

Đà Nẵng định hướng phát triển hệ sinh thái thương mại điện tử, mở rộng xuất khẩu trực tuyến, ứng dụng AI, tạo động lực tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030.
Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp

Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu nghiên cứu chuyển từ giao từng đề tài sang giao nhiệm vụ theo gói, gắn với mục tiêu và sản phẩm đầu ra. Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải có doanh nghiệp cụ thể tham gia hợp tác, từng bước đưa kết quả khoa học, công nghệ vào sản xuất và thị trường.