
Xây dựng hệ sinh thái Halal để mở rộng dư địa xuất khẩu nông sản
Thị trường 2 tỷ dân mở dư địa mới cho nông sản Việt
Hiện quy mô dân số Hồi giáo toàn cầu khoảng 2 tỷ người, tập trung chủ yếu tại Đông Nam Á, Trung Đông và châu Phi. Nhu cầu đối với thực phẩm Halal, thực phẩm an toàn, có nguồn gốc tự nhiên và đáp ứng tiêu chuẩn tôn giáo tiếp tục gia tăng mạnh.

Các thị trường Halal hiện không chỉ yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật mà còn đặt ra những tiêu chuẩn nghiêm ngặt liên quan đến nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, bảo quản, vận chuyển và cả yếu tố phù hợp với luật Hồi giáo. Ảnh minh họa
Với quy mô hơn 8.000 tỷ USD, thị trường Halal toàn cầu được nhận định có thể tăng lên khoảng 12.000 tỷ USD trong 5 năm tới. Riêng thực phẩm Halal chiếm khoảng 65% tổng giá trị thương mại của ngành này, với tốc độ tăng trưởng hơn 10% mỗi năm.
Việt Nam được đánh giá có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường Halal nhờ lợi thế về nguồn cung nông sản, thủy sản và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do như ATIGA, VIFTA hay CEPA.
Tuy nhiên, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường này vẫn còn khá khiêm tốn. Nhiều địa phương chưa có sản phẩm được chứng nhận Halal, trong khi phần lớn hàng hóa xuất khẩu sang các nước Hồi giáo vẫn dưới dạng thực phẩm thông thường thay vì sản phẩm mang nhãn Halal chính thức.
Tại Hội nghị “Cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong Hiệp định VIFTA, CEPA với Israel và Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất”, ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, cho biết, thị trường Halal đang trở thành dư địa tăng trưởng quan trọng đối với xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam. Chính phủ đang dành sự quan tâm đặc biệt cho phát triển ngành Halal. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030”.
Đến nay, Việt Nam đã ký 18 biên bản ghi nhớ hợp tác Halal giai đoạn 2023 - 2025, thành lập Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (HALCERT), xây dựng 7 tiêu chuẩn Halal quốc gia và ban hành Nghị định số 127/2026/NĐ-CP về quản lý chất lượng, phát triển sản phẩm và dịch vụ Halal.
Thiếu hệ sinh thái Halal, doanh nghiệp khó nâng giá trị xuất khẩu
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, Halal không chỉ là câu chuyện về an toàn thực phẩm hay kiểm dịch động, thực vật. Ngoài các quy định SPS, doanh nghiệp còn phải đáp ứng hàng loạt yêu cầu đặc thù liên quan đến nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, bảo quản, vận chuyển, truy xuất nguồn gốc và sự phù hợp với luật Hồi giáo.
Đối với thị trường Israel, doanh nghiệp còn cần lưu ý tới chứng nhận Kosher. Theo ThS. Nguyễn Thị Huyền, chuyên viên Văn phòng SPS Việt Nam, dù đây không phải yêu cầu bắt buộc về mặt pháp lý, nhưng phần lớn siêu thị, khách sạn tại Israel sẽ từ chối sản phẩm không có chứng nhận này. Chứng nhận Kosher áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt đối với thực phẩm, từ nguyên liệu đến quy trình giết mổ, chế biến và bảo quản.
Bên cạnh đó, nhiều thị trường Hồi giáo lớn như Indonesia hay Ấn Độ cũng liên tục cập nhật các quy định SPS liên quan đến dư lượng hóa chất, vi sinh vật, kiểm dịch thủy sản và yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm.
Theo các doanh nghiệp, chi phí chứng nhận và sự khác biệt tiêu chuẩn giữa các quốc gia đang là rào cản lớn nhất. Hiện mỗi thị trường như Indonesia, Malaysia hay khối GCC đều có hệ thống tiêu chuẩn Halal riêng. Thời hạn chứng nhận thường ngắn, doanh nghiệp phải tái đánh giá định kỳ, phát sinh thêm chi phí từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng.
Không chỉ vậy, việc thiếu một “hệ sinh thái Halal” đồng bộ cũng khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó. Để sản phẩm đạt chuẩn, toàn bộ nguyên liệu, phụ gia đầu vào, kho lạnh, vận chuyển và quy trình chế biến đều phải đáp ứng tiêu chuẩn Halal tương ứng.
Theo ông Ramlan Bin Osman, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (HALCERT), bản chất của Halal không chỉ là chứng nhận mà còn là niềm tin của người Hồi giáo đối với sản phẩm. “Khi người tiêu dùng Hồi giáo nhìn thấy logo Halal, họ tin đó là sản phẩm an toàn và phù hợp với đức tin của họ”, ông Ramlan Bin Osman nói.
Ông cũng cho rằng Việt Nam cần sớm xây dựng hệ sinh thái Halal đồng bộ từ vùng nguyên liệu, logistics, kho lạnh, chế biến đến chứng nhận và đào tạo doanh nghiệp về văn hóa tiêu dùng Hồi giáo.
Theo ông Ngô Xuân Nam, trong bối cảnh các thị trường truyền thống ngày càng cạnh tranh gay gắt, Halal có thể trở thành hướng đi chiến lược để mở rộng dư địa tăng trưởng cho nông sản Việt Nam. “Nếu tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do cùng lợi thế về nguồn cung nông sản, thủy sản chất lượng cao, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm cung ứng sản phẩm Halal quan trọng của khu vực trong tương lai gần”, ông Nam nhận định.
Để khai thác hiệu quả thị trường Halal, Việt Nam cần sớm hình thành hệ sinh thái đồng bộ từ vùng nguyên liệu, logistics, kho lạnh đến chế biến, đóng gói và chứng nhận Halal. Đồng thời, cần đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và hiểu biết về văn hóa, tiêu dùng của cộng đồng Hồi giáo.
Tin mới cập nhật

Khai mở thị trường Halal: Doanh nghiệp Việt cần làm gì để bứt phá?
Mở cửa thị trường Halal: Cơ hội lớn cho thực phẩm Việt

Xuất khẩu nông sản đừng để “thua” vì những điều tưởng nhỏ
Đọc nhiều

Thái Nguyên: Nhiều cửa hàng xăng dầu đẩy mạnh kinh doanh xăng sinh học

Việt Nam - Ấn Độ: Hướng tới mục tiêu kim ngạch thương mại 30 tỷ USD

Sản lượng ngành sản xuất tiếp tục tăng trong tháng 4/2026

Áp lực dự trữ khí đốt tại châu Âu gia tăng do gián đoạn nguồn cung

Infographic | Tổng công suất điện mặt trời mái nhà đạt gần 1.787 MWp
Thị trường ô tô đón thêm loạt phiên bản mới với hiệu suất vượt trội

Infographic | Các văn kiện hợp tác giữa Việt Nam - Ấn Độ

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp lãnh đạo Hội Hữu nghị Ấn Độ-Việt Nam

Cần Thơ: Kinh tế 4 tháng khởi sắc, vẫn nhiều thách thức




