Sản phẩm thịt của Việt Nam mở rộng xuất khẩu tới 25 thị trường

4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang 25 thị trường, trong đó Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam.

Hồng Kông (Trung Quốc) là thị trường xuất khẩu thịt lớn nhất

Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 5,7 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 40,8 triệu USD, giảm 20,8% về lượng, nhưng tăng 2,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang 25 thị trường.

Trong đó, Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 37,25% về lượng và chiếm 46,4% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước, đạt 2,1 nghìn tấn, trị giá 18,93 triệu USD, giảm 41,6% về lượng và giảm 24,7% về trị giá so với 4 tháng đầu năm 2025. Thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh vẫn là những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hồng Kông (Trung Quốc).

Xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam sang một số thị trường khác giảm về lượng và trị giá như Canada, Malaysia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Liban... so với cùng kỳ năm 2025. Trái lại, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang các thị trường trong 4 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng tốt về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 như Trung Quốc, Pháp, Singapore, Hoa Kỳ, Campuchia...

Trong 4 tháng, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu vẫn gồm các chủng loại như: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 40,29% về lượng và chiếm 50,24% về trị giá; thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 38,62 về lượng và chiếm 30,8% về trị giá; thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 20,5% về lượng và chiếm 16,69% về trị giá; các chủng loại khác chiếm 0,58% về lượng và chiếm 2,28% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam.

Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam. Ảnh minh họa

Hồng Kông (Trung Quốc) vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam. Ảnh minh họa

Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, đạt 2,3 nghìn tấn, trị giá 20,5 triệu USD, giảm 24,6% về lượng và giảm 12,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, trong đó xuất khẩu tới thị trường chủ yếu là Hồng Kông (Trung Quốc) giảm 28,2% về lượng và giảm 18,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Việt Nam nhập khẩu 313,07 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt

Ở chiều ngược lại, 4 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 313,07 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 928,83 triệu USD, tăng 11,2% về lượng và tăng 37,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 23,78% trong tổng lượng nhập khẩu của cả nước, đạt 74,4 nghìn tấn, trị giá 310,11 triệu USD, tăng 31,6% về lượng và tăng 59,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt từ một số thị trường cung cấp khác cũng tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2025 như: Hoa Kỳ, Canada, Tây Ban Nha, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Slovenia...Tuy nhiên, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt giảm so với cùng kỳ năm 2025 từ một số thị trường như: Nga, Hàn Quốc, Ba Lan, Argentina, Iran, Bỉ.

Các chủng loại thịt Việt Nam nhập khẩu chủ yếu gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 37,27% về lượng và chiếm 13% về trị giá; thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 22,17% về lượng và chiếm 31,9% về trị giá; thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 13,77% về lượng và chiếm 10,02% về trị giá; phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 15,47% về lượng và chiếm 7,16% về trị giá; thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 6,38% về lượng và chiếm 13,84% về trị giá; các mặt hàng khác chiếm 4,94% về lượng và chiếm 2,2% về trị giá trong tổng nhập khẩu thịt 4 tháng năm 2026.

Nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam đạt 43,1 nghìn tấn, với trị giá 93,11 triệu USD, giảm 3,6% về lượng và giảm 21,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam trong 4 tháng đầu năm ở mức 2.143 USD/tấn, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 17 thị trường, trong đó Nga vẫn là thị trường cung cấp lớn nhất, chiếm 32,56% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của cả nước; tiếp theo là Brazil chiếm 19,18%; Tây Ban Nha chiếm 29,43%; Đức chiếm 7,4%; Hà Lan chiếm 3,03%; các thị trường khác chiếm 8,41%.

Trong tháng 5/2026, giá lợn hơi trong nước có xu hướng tăng so với tháng 4/2026, dao động trong khoảng 66.000 - 71.000 đồng/kg. Cụ thể: Cuối tháng 5/2026, giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 66.000 - 70.000 đồng/kg, tăng từ 1.000 - 4.000 đồng/kg so với tháng 4/2026; giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 68.000 - 69.000 đồng/kg, tăng từ 1.000 - 3.000 đồng/kg so với tháng 4/2026; giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 69.000 - 71.000 đồng/kg, tăng từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so với tháng 4/2026.

Ngọc Ngân
Bình luận

Tin mới cập nhật

Đọc nhiều

Mở dòng vốn cho kinh tế tư nhân Lâm Đồng bứt tốc

Mở dòng vốn cho kinh tế tư nhân Lâm Đồng bứt tốc

Ngày 29/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Lâm Đồng tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân - Phiên đối thoại tỉnh Lâm Đồng.
Xuất nhập khẩu Quảng Ninh tăng trưởng tích cực trong 9 tháng năm 2026

Xuất nhập khẩu Quảng Ninh tăng trưởng tích cực trong 9 tháng năm 2026

Xuất nhập khẩu Quảng Ninh tiếp tục tăng trưởng tích cực, mở rộng thị trường, phát triển logistics và hỗ trợ doanh nghiệp để tạo thêm động lực những tháng cuối năm.
Điện mặt trời mái nhà tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế

Điện mặt trời mái nhà tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế

Điện mặt trời mái nhà mở ra thêm lựa chọn trong sử dụng năng lượng, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác điện và hướng tới mô hình phát triển xanh, bền vững.
Ban hành Nghị định mới về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo

Ban hành Nghị định mới về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã ký ban hành Nghị định số 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo, Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/10/2026.
Chùm ảnh: Kỹ sư Việt từng bước làm chủ dây chuyền công nghệ ô tô

Chùm ảnh: Kỹ sư Việt từng bước làm chủ dây chuyền công nghệ ô tô

Từ nghiên cứu, thiết kế đến chế tạo, tích hợp, kỹ sư Việt Nam từng bước làm chủ dây chuyền hàn thân vỏ ô tô, góp phần nâng năng lực tự chủ và tỷ lệ nội địa hóa.
Volvo EX90 và ES90 thu hút chú ý trước ngày ra mắt tại Việt Nam

Volvo EX90 và ES90 thu hút chú ý trước ngày ra mắt tại Việt Nam

Trước thời điểm chính thức trình làng thị trường Việt Nam, hai mẫu xe thuần điện Volvo EX90 và ES90 đang nhận được sự quan tâm từ khách hàng.
Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế

Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế

Một nền kinh tế có thể sở hữu nhiều nguồn lực nhưng vẫn tăng trưởng dưới tiềm năng nếu các nguồn lực chưa được đưa vào sử dụng kịp thời, bị phân tán, phân bổ chưa hợp lý.
Doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực sản xuất thiết bị điện

Doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực sản xuất thiết bị điện

Nhu cầu điện tăng nhanh đang mở ra cơ hội phát triển cho ngành cung ứng thiết bị điện, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và năng lực sản xuất
Kinh tế tuần hoàn mở thêm dư địa cho ngành tôm Việt Nam

Kinh tế tuần hoàn mở thêm dư địa cho ngành tôm Việt Nam

Kinh tế tuần hoàn đang mở thêm dư địa để ngành tôm Việt Nam nâng giá trị chuỗi sản xuất, tận dụng hiệu quả phụ phẩm, giảm chi phí và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Quảng Ninh: Tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân bứt phá

Quảng Ninh: Tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân bứt phá

Quảng Ninh đang tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về thủ tục, vốn, đất đai, nhân lực và công nghệ, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn.