
Tái định hình ngành khai khoáng nhờ đổi mới công nghệ
Thúc đẩy khai khoáng xanh
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành công nghiệp khai khoáng luôn giữ vai trò nền tảng, cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu cho nhiều lĩnh vực trọng yếu như năng lượng, luyện kim, vật liệu xây dựng, hóa chất, cơ khí, điện tử… Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển bền vững, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ngành khai khoáng Việt Nam đang đối diện nhiều thách thức lớn về đổi mới công nghệ, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên hiệu quả.
Thực tế cho thấy hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản trong nước còn thiếu đồng bộ. Nhiều mỏ hoạt động ở quy mô nhỏ và vừa, thiết bị kỹ thuật nhập khẩu từ nhiều nguồn, thiếu tính thống nhất, mức độ tự động hóa thấp. Trong khi đó, yêu cầu về an toàn lao động, bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng ngày càng khắt khe, đòi hỏi ngành phải có bước chuyển mình mạnh mẽ cả về công nghệ và phương thức quản trị.

PGS.TS Phùng Mạnh Đắc, Tổng Thư ký Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam. Ảnh: Bateco
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Phùng Mạnh Đắc, Tổng Thư ký Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam cho biết, nước ta có nhiều ngành công nghiệp khai thác các loại khoáng sản có quy mô trữ lượng và công suất lớn, như than, bô-xít, đồng, sắt và một số khoáng sản khác như titan…
“Về trình độ công nghệ, phần lớn các mỏ hiện nay đang áp dụng hai phương pháp chính là khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò. Đối với khai thác lộ thiên, xét về mức độ, phương pháp và thiết bị, trình độ công nghệ của Việt Nam cơ bản tương đương với các mỏ trên thế giới có quy mô và điều kiện địa chất tương tự”, PGS.TS Phùng Mạnh Đắc cho hay.
Trong khi đó, đối với các mỏ hầm lò, mức độ cơ giới hóa của Việt Nam hiện vẫn còn thấp hơn khá nhiều so với các nước tiên tiến. Tuy nhiên, thời gian gần đây, đặc biệt tại các mỏ than và mỏ quặng của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), quá trình chuyển đổi số và tự động hóa đang được triển khai mạnh mẽ, hướng tới xây dựng mô hình mỏ thông minh.
PGS.TS Phùng Mạnh Đắc cho rằng, nếu đánh giá tổng thể, đến thời điểm hiện nay, chúng ta đang có một điểm khởi đầu tương đối vững chắc để chuẩn bị bước sang một giai đoạn phát triển mới với giai đoạn xây dựng mỏ thông minh. “Với điều kiện chúng ta triển khai quyết liệt, có định hướng lớn đúng đắn, trong khoảng 5-10 năm tới, ngành khai khoáng Việt Nam hoàn toàn có thể theo kịp xu hướng hiện đại hóa đang diễn ra tại các mỏ có công suất và điều kiện tương tự trên thế giới”, Tổng Thư ký Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ chia sẻ.
Cũng theo PGS.TS Phùng Mạnh Đắc, đổi mới và hiện đại hóa công nghệ không chỉ giúp ngành công nghiệp nói chung và ngành khai khoáng nói riêng, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí nguyên nhiên liệu, mà còn góp phần tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, bảo vệ môi trường và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã lồng ghép đầy đủ các mục tiêu và nhiệm vụ của Đề án đổi mới và hiện đại hóa công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ, vào các chiến lược phát triển ngành, quy hoạch và kế hoạch phát triển các lĩnh vực liên quan
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng đã xây dựng và triển khai Chương trình khoa học và công nghệ về đổi mới công nghệ trong ngành khai khoáng. Thông qua chương trình này, Bộ hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ, thiết bị phù hợp với điều kiện sản xuất và yêu cầu phát triển bền vững.
Đồng thời, Bộ cũng ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ, thiết bị, nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong Đề án kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Công nghệ mở lối khai khoáng
Đánh giá thêm về công nghệ khai thác của Việt Nam, theo PGS.TS Phùng Mạnh Đắc, xét về trình độ công nghệ khai thác hiện nay, cả ở các mỏ lộ thiên và mỏ hầm lò đặc biệt trong lĩnh vực khai thác than, khai thác đồng và khai thác bô-xít Việt Nam đã đạt được mức độ tương đối tương đương với thế giới. Mặc dù quy mô còn hạn chế, thiết bị chủ yếu ở phân khúc trung bình và mức độ đồng bộ chưa cao, nhưng về mặt công nghệ cốt lõi, chúng ta không tụt hậu.

Trước yêu cầu chuyển đổi xanh, ngành khai khoáng Việt Nam đứng trước yêu cầu tái định hình mô hình phát triển, trong đó công nghệ đóng vai trò nền tảng quyết định. Ảnh minh họa
Đối với các mỏ khai thác lộ thiên, để tiếp tục đổi mới công nghệ, giải pháp căn bản vẫn là đẩy mạnh chuyển đổi số và tự động hóa, hướng tới xây dựng mô hình mỏ thông minh. Mỏ thông minh không chỉ bao gồm mỏ lộ thiên mà còn bao trùm cả mỏ hầm lò và nhà máy tuyển. Đây là yêu cầu mang tính tất yếu mà ngành khai khoáng phải thực hiện.
“Tuy nhiên, nếu muốn tạo ra đột phá thực sự trong quá trình chuyển đổi xanh, cần phải xem xét lại một cách căn bản phương thức và thiết bị vận tải trong khai thác mỏ. Hiện nay, tại các mỏ lộ thiên, việc vận tải chủ yếu vẫn dựa vào ô tô tải trọng lớn, từ 100-130 tấn, sử dụng nhiên liệu diesel, đây chính một nguồn phát thải rất lớn. Vì vậy, cần tiếp cận theo xu hướng của thế giới, từng bước chuyển sang sử dụng các phương tiện vận tải chạy bằng pin điện, pin nhiên liệu hoặc kết hợp pin điện - pin nhiên liệu. Cách tiếp cận này cho phép quá trình đổi mới thiết bị gắn liền với mục tiêu chuyển đổi xanh, giảm phát thải ngay từ khâu khai thác”, PGS.TS Phùng Mạnh Đắc nhận định.
Bên cạnh đó, về phương thức vận tải, hiện nay nhiều mỏ, cả mỏ quặng và mỏ than, đã khai thác xuống rất sâu, có nơi đạt mức âm 300 mét. Trong điều kiện đó, hoàn toàn có thể xem xét đổi mới phương thức vận tải, chuyển dần từ vận tải ô tô sang sử dụng các hệ thống băng tải dốc.
“Thế giới đã có nhiều kinh nghiệm thành công trong lĩnh vực này. Đây là giải pháp mang tính căn cơ, có thể làm thay đổi toàn bộ công nghệ khai thác, đặc biệt là đối với các mỏ khai thác xuống sâu”, Tổng Thư ký Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ chỉ ra.
Ngoài ra, đối với các mỏ hầm lò, tỷ lệ khai thác bằng cơ giới hóa hiện vẫn còn thấp, chỉ khoảng 13-14%. Trong những năm tới, nhiệm vụ trọng tâm là đầu tư để chuyển đổi mạnh mẽ sang khai thác than bằng cơ giới hóa, từng bước thay thế phương pháp khoan, nổ mìn truyền thống.
Cùng với đó, theo PGS.TS Phùng Mạnh Đắc, hệ thống máy đào lò cũng cần được đầu tư và phát triển theo hướng công suất lớn hơn, hiện đại hơn. Đây là chính những hướng đi lớn, mang tính xoay chuyển căn bản công nghệ khai thác trong khai thác hầm lò. Ngoài ra, ngành khai khoáng cũng cần tập trung nghiên cứu và áp dụng các giải pháp nhằm giảm tổn thất tài nguyên, nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí sản xuất.
Theo PGS.TS Phùng Mạnh Đắc, đổi mới và hiện đại hóa công nghệ là con đường tất yếu để ngành khai khoáng Việt Nam phát triển bền vững. Trọng tâm thời gian tới là đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng mỏ thông minh, đổi mới phương thức và thiết bị vận tải theo hướng giảm phát thải, nâng tỷ lệ cơ giới hóa trong khai thác hầm lò, đồng thời giảm tổn thất tài nguyên, nâng cao năng suất và hiệu quả khai thác.
Tin mới cập nhật


Hoàn thiện pháp luật: Giải pháp then chốt trong quản lý khai thác khoáng sản

Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường: Lai Châu cần khai thác hiệu quả khoáng sản

Thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản
Đọc nhiều

Tái định hình ngành khai khoáng nhờ đổi mới công nghệ

Xuất khẩu gỗ duy trì tăng trưởng, tiến gần mục tiêu cả năm

Du lịch Việt Nam sôi động đầu năm 2026

Infographic | 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch năm 2025
Huế đón hơn 8.700 lượt khách tham quan di sản ngày đầu năm 2026

Infographic | Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chạm đỉnh mới

Phát triển công nghiệp môi trường từ nền tảng công nghệ

Nhóm đối tượng nào được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh từ 1/1/2026?

Dân vận từ những việc làm cụ thể




