PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Thể chế hóa quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy phát triển văn hóa
Nghị quyết 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt ra yêu cầu gắn phát triển văn hóa với hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số. Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ cao trong toàn bộ chuỗi giá trị từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu thụ đến bảo vệ bản quyền. Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội đó chính là cách vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

Văn hóa đã được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Ảnh: VGP
Văn hoá soi đường cho quốc dân đi
- Thưa ông, “Văn hoá soi đường cho quốc dân đi” là quan điểm cơ bản, xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về quan điểm điểm này?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, Người đã đặt văn hóa ở vị trí rất cao, rất sâu và rất căn bản trong sự nghiệp cách mạng. Văn hóa không phải là phần trang trí của đời sống, không phải là lĩnh vực đứng bên ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà là ánh sáng dẫn đường, là nền tảng tinh thần, là hệ giá trị giúp một dân tộc biết mình là ai, đi về đâu, đi bằng cách nào và vì mục tiêu gì.
Trong suốt chặng đường cách mạng Việt Nam, văn hóa luôn là một nguồn sức mạnh đặc biệt. Trong đấu tranh giành độc lập, văn hóa khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí hy sinh, niềm tin vào tương lai. Trong kháng chiến, văn hóa trở thành sức mạnh tinh thần giúp dân tộc vượt qua gian khổ, biến những con người bình thường thành những con người phi thường. Trong xây dựng đất nước, văn hóa giúp chúng ta gìn giữ bản sắc, củng cố niềm tin, xây dựng con người mới, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Ngày nay, giá trị ấy càng trở nên cấp thiết. Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, hội nhập sâu rộng, làm chủ khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Nhưng càng phát triển nhanh, chúng ta càng cần văn hóa để giữ cân bằng. Càng hội nhập sâu, càng cần văn hóa để giữ bản sắc.
- Trong bối cảnh hiện nay, ông nhận định như thế nào về việc vận dụng tư tưởng của Người để chúng ta vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại, vừa bảo tồn và phát huy mạnh mẽ bản sắc văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn về sự kết hợp giữa bản lĩnh dân tộc và tinh thần tiếp thu tinh hoa nhân loại. Người rất Việt Nam, rất sâu sắc trong tình yêu đối với dân tộc, nhưng đồng thời cũng rất rộng mở với thế giới. Người đi nhiều nơi, tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại, nhưng tất cả đều được chắt lọc, Việt hóa, đặt trong mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người và xây dựng đất nước.
Nghị quyết 80-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu gắn phát triển văn hóa với hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số; đồng thời xác định phát triển có trọng tâm một số lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ cao trong toàn bộ chuỗi giá trị từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu thụ đến bảo vệ bản quyền.
Theo tôi, đó chính là cách vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: mở cửa với thế giới nhưng giữ vững bản lĩnh Việt Nam; tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng làm giàu thêm bản sắc dân tộc; dùng công nghệ hiện đại để kể những câu chuyện rất Việt Nam, bằng ngôn ngữ mà thế giới có thể hiểu, yêu mến và chia sẻ.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội
Văn hóa là nguồn lực phát triển của quốc gia
- Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và hình thành từ 5 - 10 thương hiệu văn hóa quốc gia về điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thời trang… Ông nhìn nhận thế nào về mục tiêu này?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng đây là một mục tiêu rất quan trọng, thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy phát triển văn hóa. Chúng ta không chỉ nhìn văn hóa như lĩnh vực cần được bảo tồn, chăm lo, hỗ trợ, mà còn nhìn văn hóa như một nguồn lực phát triển, một động lực kinh tế, một sức mạnh mềm và một lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Nghị quyết 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực có tiềm năng như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang; tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP. Đây là những mục tiêu cụ thể, có tính định lượng, cho thấy văn hóa đã được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia.
Điều này rất phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng. “Dân tộc” là phải có bản sắc Việt Nam, cốt cách Việt Nam, câu chuyện Việt Nam. “Khoa học” là phải hiện đại, sáng tạo, có phương pháp, biết ứng dụng công nghệ, biết tổ chức sản xuất, phân phối, truyền thông, bảo vệ bản quyền theo chuẩn mực mới. “Đại chúng” là văn hóa phải đến được với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân, đồng thời tạo sinh kế, việc làm, cơ hội sáng tạo cho cộng đồng.
- Vậy, theo ông, chúng ta cần cơ chế đột phá nào để hiện thực hóa mục tiêu này, biến các di sản, “vốn văn hóa” ngàn năm của cha ông thành những tài sản thương hiệu có sức cạnh tranh cao trong kỷ nguyên số?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Muốn biến di sản và vốn văn hóa ngàn năm thành tài sản thương hiệu có sức cạnh tranh cao, trước hết phải có một tư duy đột phá: coi văn hóa là tài sản, coi sáng tạo là năng lực sản xuất, coi công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế sáng tạo có giá trị gia tăng cao. Khi tư duy thay đổi, cơ chế chính sách mới thay đổi.
Như vậy, một là, thể chế hóa mạnh mẽ hơn quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền và khai thác tài sản văn hóa. Di sản, tri thức dân gian, nghệ thuật truyền thống, biểu tượng văn hóa, câu chuyện lịch sử, họa tiết, âm thanh, hình ảnh, lễ hội, ẩm thực… đều có thể trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo. Nhưng muốn khai thác bền vững, phải có cơ chế bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, nghệ nhân, người sáng tạo, doanh nghiệp; tránh khai thác thô, sao chép tùy tiện, thương mại hóa phản cảm hoặc làm méo mó giá trị gốc.
Hai là, hình thành các cụm, khu, tổ hợp sáng tạo văn hóa, nơi di sản gặp công nghệ, nghệ sĩ gặp doanh nghiệp, nhà nghiên cứu gặp nhà thiết kế, cộng đồng gặp thị trường. Nghị quyết 80-NQ/TW đã nhấn mạnh việc xây dựng hạ tầng và kiến tạo thị trường trọng điểm cho các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế cạnh tranh; hình thành các cụm, khu và tổ hợp văn hóa - sáng tạo; phát triển tập đoàn văn hóa - sáng tạo tầm cỡ quốc gia và quốc tế; xây dựng và vận hành sàn giao dịch sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt dưới dạng tài sản số.
Ba là, đầu tư cho dữ liệu văn hóa và hạ tầng số. Muốn đưa văn hóa vào kỷ nguyên số, trước hết phải số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu mở có kiểm soát, tạo kho tư liệu chất lượng cao cho sáng tạo. Khi một nhà làm phim, nhà thiết kế, nhà phát triển game, nghệ sĩ trẻ hay doanh nghiệp du lịch muốn khai thác chất liệu văn hóa Việt Nam, họ phải có nơi tiếp cận dữ liệu chính xác, đẹp, phong phú, có hướng dẫn sử dụng và cơ chế cấp phép rõ ràng.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực vừa hiểu văn hóa, vừa hiểu công nghệ, vừa hiểu thị trường. Công nghiệp văn hóa không thể chỉ dựa vào cảm hứng. Nó cần nhà sản xuất chuyên nghiệp, nhà quản trị bản quyền, chuyên gia marketing văn hóa, nhà thiết kế trải nghiệm, biên kịch, đạo diễn, nghệ sĩ số, kỹ sư công nghệ sáng tạo, chuyên gia dữ liệu, giám tuyển, nhà phê bình, nhà đầu tư.
Năm là, đặt hàng và chấp nhận rủi ro sáng tạo. Sáng tạo không thể chỉ vận hành bằng thủ tục hành chính thông thường. Cần có quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ, cơ chế khoán chi, đặt hàng theo sản phẩm đầu ra, ưu đãi thuế, tín dụng, đất đai, hạ tầng cho các dự án văn hóa có tiềm năng. Quan trọng hơn, phải dám đặt hàng những tác phẩm lớn, sản phẩm lớn, thương hiệu lớn, đủ sức đi ra thế giới.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, phải xây dựng năng lực kể chuyện quốc gia. Mỗi di sản, mỗi làng nghề, mỗi vùng đất, mỗi món ăn, mỗi trang phục, mỗi làn điệu dân ca, mỗi nhân vật lịch sử đều chứa một câu chuyện. Nhưng câu chuyện ấy cần được kể bằng ngôn ngữ của thời đại: điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, game, hoạt hình, du lịch trải nghiệm, nền tảng số, truyền thông đa phương tiện.
Tin mới cập nhật
Nghị quyết 80: Nền tảng cho ngành Công Thương xây dựng văn hoá công vụ bền vững

Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 79 và Nghị quyết 80-NQ/TW

Nghị quyết 80-NQ/TW: Vững bước tiến vào kỷ nguyên mới cùng văn hóa Việt
Đọc nhiều

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Thể chế hóa mạnh mẽ hơn quyền sở hữu trí tuệ

Tăng tốc chuyển đổi xanh, kiến tạo mô hình tăng trưởng bền vững

Infographic | Tạm hoãn xuất cảnh người nợ thuế và những điều cần lưu ý

Xuất khẩu hồ tiêu giảm mạnh trong nửa đầu tháng 5/2026

Cà Mau chấp thuận chủ trương đầu tư 2 dự án nhà máy điện gió

Qatar kêu gọi tôn trọng quyền tự do hàng hải tại eo biển Hormuz

Thị trường dầu mỏ biến động sau tín hiệu ngoại giao tại Trung Đông

Thái Nguyên nỗ lực mở rộng thị trường cho sản phẩm OCOP

Hợp tác, giao lưu du lịch Việt Nam - Trung Quốc ngày càng sôi động




