Nâng hạng thị trường chứng khoán là cơ hội vàng, nhưng cũng là phép thử

Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, nâng hạng thị trường chứng khoán không chỉ mang lại cơ hội vốn quốc tế mà còn là phép thử với thể chế và chất lượng thị trường Việt Nam.

Ngày 23/10, bên lề sự kiện “Đối thoại Chứng khoán: Tiền mới, hàng mới và cơ hội trên thị trường mới nổi” do Câu lạc bộ Nhà báo Chứng khoán Việt Nam tổ chức, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Giám đốc Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về triển vọng dòng vốn quốc tế, chính sách điều phối vĩ mô và những điểm nghẽn trong hành trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam.

Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Giám đốc Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV. Ảnh: Ngọc Linh

Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Giám đốc Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV. Ảnh: Ngọc Linh

“Tiền mới” sẽ là cú huých cho thị trường nhưng không đến ồ ạt

- Thưa ông, khi nâng hạng thị trường chứng khoán, dòng “tiền mới” từ các quỹ quốc tế sẽ có tác động như thế nào đến ổn định vĩ mô, đặc biệt là tỷ giá, lãi suất và dòng vốn ngắn hạn?

Tiến sĩ Cấn Văn Lực: Trước hết, phải khẳng định rằng Chính phủ, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã rất nỗ lực và quyết liệt trong năm vừa qua để Việt Nam được FTSE Russell công nhận là thị trường chứng khoán mới nổi thứ cấp. Từ nay đến tháng 9/2026, chúng ta vẫn còn một giai đoạn quá độ, phải tiếp tục hoàn thiện một số khâu, một số điều kiện khác để chính thức trở thành thị trường thứ cấp mới nổi theo tiêu chí của tổ chức này.

Các dự báo và phân tích hiện nay cho thấy Việt Nam có thể thu hút bình quân khoảng 5 tỷ USD trong giai đoạn tới, tuy nhiên lượng vốn này không đến ồ ạt mà sẽ phân kỳ trong vòng một đến hai năm, thậm chí lâu hơn. Nếu chia đều trong ba năm, dòng vốn bổ sung mới cho thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ vào khoảng 1 - 2 tỷ USD mỗi năm. Nguồn vốn chủ yếu đến từ các quỹ đầu tư và quỹ ETF, trong đó khoảng 30% là quỹ thụ động và 70% là quỹ chủ động. Điều đó cho thấy các nhà đầu tư vẫn sẽ “nghe ngóng”, quan sát động thái thị trường, chính sách, cũng như phản ứng của các nhà đầu tư khác trước khi giải ngân mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam.

Dù vậy, dòng vốn mới dù 3 hay 5 tỷ USD vẫn là tín hiệu tích cực cho thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng trên ba khía cạnh. Thứ nhất, đây là chất xúc tác để các dòng vốn khác cùng đổ thêm vào Việt Nam, góp phần khuếch đại hiệu ứng đầu tư. Thứ hai, việc hướng tới tiêu chí nâng hạng buộc thị trường chứng khoán phải lành mạnh, hiệu quả và có quy mô lớn hơn, phù hợp với đề án Chính phủ đã đề ra. Thứ ba, dòng ngoại tệ này cũng tăng thêm nguồn lực giúp ổn định tỷ giá, đồng thời tạo công cụ hỗ trợ điều tiết thị trường tiền tệ.

Tuy nhiên, cũng có những thách thức cần lường trước. Nếu Việt Nam không đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư và tổ chức FTSE Russell trong thời gian tới, quá trình nâng hạng có thể bị gián đoạn. Ngoài ra, trong bối cảnh thị trường biến động, hiện tượng đảo chiều dòng vốn hoàn toàn có thể xảy ra, dẫn tới rủi ro khi tiền vào nhanh nhưng cũng có thể rút ra nhanh. Vì thế, bên cạnh việc cải thiện chất lượng thị trường, Việt Nam cần đồng thời xây dựng các công cụ kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn, bảo đảm ổn định vĩ mô.

Thị trường chứng khoán Việt Nam cần phát triển chất lượng nhà đầu tư, gồm cả tổ chức và cá nhân. Ảnh: Nguyên Anh

Thị trường chứng khoán Việt Nam cần phát triển chất lượng nhà đầu tư, gồm cả tổ chức và cá nhân. Ảnh: Nguyên Anh

Ba trụ cột chính sách phải vận hành đồng bộ để giữ ổn định vĩ mô

- Để đón làn sóng vốn ngoại, theo ông, Việt Nam cần có những chính sách như thế nào để điều phối ba trụ cột tiền tệ, tài khóa và tỷ giá ra sao để có thể vừa mở cửa, vừa giữ ổn định vĩ mô?

Tiến sĩ Cấn Văn Lực:Trước hết, chúng ta cần thực hiện thật tốt Đề án nâng hạng thị trường chứng khoán mà Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành. Trong đó, các cơ chế, chính sách, giải pháp đã được định vị rõ ràng, vấn đề còn lại là triển khai thực hiện một cách quyết liệt và thực chất.

Thứ hai, Việt Nam muốn đạt tốc độ tăng trưởng cao, thậm chí 10% giai đoạn từ nay đến năm 2030, nhưng vẫn phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Đó là yêu cầu xuyên suốt thì việc kiểm soát lạm phát, tỷ giá và điều tiết các thị trường có liên quan như: vàng, tài sản mã hóa hay chứng khoán cần được phối hợp chặt chẽ, nhằm củng cố niềm tin cho nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

Thứ ba, cần đặc biệt chú trọng ba nhóm giải pháp trọng tâm. Một là, cần tăng cả số lượng và chất lượng doanh nghiệp niêm yết. Hiện nay, số doanh nghiệp trên sàn chưa nhiều, chất lượng chưa cao, tập trung chủ yếu vào nhóm ngân hàng và bất động sản. Việt Nam cần khuyến khích các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học công nghệ, năng lượng và công nghiệp chiến lược niêm yết để hình thành trụ cột thực sự cho thị trường.

Hai là, nâng cao tính minh bạch và chuẩn mực của thị trường. Ngoài việc công bố thông tin bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, cần áp dụng chuẩn mực kế toán và báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) để tăng tính hội nhập, củng cố niềm tin của nhà đầu tư toàn cầu.

Ba là, phát triển chất lượng nhà đầu tư, gồm cả tổ chức và cá nhân. Các quỹ đầu tư trong nước cần được hỗ trợ để phát triển mạnh hơn, song song với việc hướng các doanh nghiệp niêm yết theo hai tiêu chí chiến lược là xanh hóa và số hóa. Đây là điều kiện tiên quyết để thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển bền vững và duy trì vị thế sau khi được nâng hạng.

Rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hành lang pháp lý

- Trong góc nhìn của ông, nâng hạng thị trường chứng khoán không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà còn là bài kiểm tra thể chế. Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay?

Tiến sĩ Cấn Văn Lực: Thực tế, trong Đề án nâng hạng thị trường chứng khoán, Chính phủ đã nhận diện rõ các vấn đề thể chế cần khắc phục. Trước hết, điều quan trọng nhất là tổ chức thực hiện thật tốt các cơ chế, chính sách và nghị quyết chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã ban hành, đồng thời triển khai hiệu quả các luật liên quan như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán và một số luật khác.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần ban hành kịp thời các quy định pháp luật mới để điều chỉnh những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới, dựa trên nguyên tắc thử nghiệm và cập nhật linh hoạt. Việc “đi chậm một nhịp” trong hoàn thiện hành lang pháp lý cho các sản phẩm tài chính, công nghệ mới có thể khiến thị trường bỏ lỡ cơ hội, do đó phản ứng chính sách phải nhanh và hiệu quả hơn nữa.

Một điểm rất quan trọng là tháo gỡ các rào cản, vướng mắc trong quá trình triển khai. Theo tôi, đã đến lúc cần rà soát, sửa đổi căn bản Luật Chứng khoán Việt Nam, gắn với câu chuyện nâng hạng thị trường và cải cách khu vực tài chính. Luật Chứng khoán hiện hành, ban hành năm 2019 và đã được sửa đổi một phần vào năm 2024, cần được cập nhật toàn diện để tương thích với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Nâng hạng thị trường chứng khoán vì thế không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà còn là bài kiểm tra năng lực thể chế, khả năng tổ chức thực thi và quyết tâm cải cách của Việt Nam. Chúng ta đã có khung khổ, đã có lộ trình, điều còn lại là hành động kiên định và thực chất, để thị trường chứng khoán không chỉ được “nâng hạng”, mà còn trở thành kênh huy động vốn mạnh mẽ, phản ánh sức sống thực sự của nền kinh tế Việt Nam.

- Xin cảm ơn Tiến sĩ về cuộc trao đổi!

Tại sự kiện Đối thoại chứng khoán “Tiền mới, hàng mới và Cơ hội trên thị trường mới nổi”, ông Bùi Hoàng Hải - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, nhấn mạnh, việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm mới nổi thứ cấp là một cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam 25 năm qua. Sau nâng hạng, cơ quan quản lý và tất cả các thành viên thị trường sẽ còn rất nhiều việc cần triển khai để thị trường chứng khoán đóng góp hiệu quả hơn cho nền phát triển kinh tế đất nước.

 

Hoàng Lan (thực hiện)
Bình luận

Tin mới cập nhật

Đọc nhiều

Xúc tiến thương mại biên giới: Mở rộng không gian, nâng chất liên kết

Xúc tiến thương mại biên giới: Mở rộng không gian, nâng chất liên kết

Định hướng mới trong công tác xúc tiến thương mại ở khu vực biên giới là chuyển từ giao thương cửa khẩu sang kết nối thị trường và chuỗi giá trị bền vững.
Cao Bằng xây hệ sinh thái thương mại điện tử bền vững

Cao Bằng xây hệ sinh thái thương mại điện tử bền vững

Cao Bằng đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, nâng cao kỹ năng bán hàng trực tuyến, ứng dụng AI và hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh mở rộng thị trường số.
Khai thác sâu CPTPP: Tuân thủ yêu cầu là điều kiện tiên quyết

Khai thác sâu CPTPP: Tuân thủ yêu cầu là điều kiện tiên quyết

Hàng Việt vẫn còn nhiều dư địa xuất khẩu sang khối CPTPP, nhưng để thành công, doanh nghiệp phải nâng cao năng lực tuân thủ, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu.
Mở rộng không gian xuất khẩu cho ngành điện tử từ CPTPP

Mở rộng không gian xuất khẩu cho ngành điện tử từ CPTPP

Hiệp định CPTPP đang tạo ra không gian để doanh nghiệp điện tử Việt Nam đa dạng hóa khách hàng, nguồn cung, đối tác và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực.
Nghề dệt lanh Lùng Tám gìn giữ giá trị qua nhiều thế hệ

Nghề dệt lanh Lùng Tám gìn giữ giá trị qua nhiều thế hệ

Nghề dệt lanh của ở Lùng Tám được gìn giữ qua nhiều thế hệ, với hàng chục công đoạn thủ công kéo dài nhiều tháng để tạo nên những tấm vải mang đậm bản sắc văn hóa.
Tuyên Quang tăng cường tuyên truyền, xử lý vi phạm về hàng hóa

Tuyên Quang tăng cường tuyên truyền, xử lý vi phạm về hàng hóa

9 tháng đầu năm 2026, lực lượng Quản lý thị trường Tuyên Quang xử phạt 535 vụ vi phạm, song song với đó tăng cường tuyên truyền pháp luật và giải quyết đơn thư, phản ánh.
FDI thực hiện 9 tháng năm 2026 cao nhất 5 năm

FDI thực hiện 9 tháng năm 2026 cao nhất 5 năm

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 30/9/2026 đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.
Quảng Ngãi: Vững kinh tế nhờ thay đổi tư duy cây trồng

Quảng Ngãi: Vững kinh tế nhờ thay đổi tư duy cây trồng

Từ những diện tích đất đồi trồng keo và hoa màu kém hiệu quả, người dân xã miền núi Sơn Mai mạnh dạn chuyển đổi sang các loại cây có giá trị kinh tế cao, nâng thu nhập.
TP. Hồ Chí Minh: Doanh thu bán lẻ, dịch vụ tiêu dùng đạt gần 1,49 triệu tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh: Doanh thu bán lẻ, dịch vụ tiêu dùng đạt gần 1,49 triệu tỷ đồng

9 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng TP. Hồ Chí Minh đạt gần 1,49 triệu tỷ đồng, tăng 13,8%; CPI bình quân tăng 4,69%.
TP. Hồ Chí Minh thu hút 17,2 tỷ USD vốn FDI trong 9 tháng

TP. Hồ Chí Minh thu hút 17,2 tỷ USD vốn FDI trong 9 tháng

Đến ngày 20/9/2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút 17,2 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, gấp 4,2 lần cùng kỳ; vốn đăng ký mới của doanh nghiệp trong nước cũng tăng 23,3%.