Cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho Nhật Bản: Thách thức lớn của doanh nghiệp Việt Nam
Nhiều tồn tại
Những năm gần đây, Chính phủ đã ban hành và triển khai nhiều cơ chế khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT). Tuy nhiên cho đến nay, doanh nghiệp trong lĩnh vực này của Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhất là về năng lực sản xuất. Điều này khiến nỗ lực trở thành nhà cung ứng sản phẩm CNHT cho các nhà sản xuất Nhật Bản của doanh nghiệp Việt Nam chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Ông Akutsu Michio – Đại diện Hiệp hội Các nhà tư vấn kinh doanh quốc tế Nhật Bản, chỉ ra: Năng suất lao động của doanh nghiệp CNHT tại các địa phương còn khá thấp. Doanh nghiệp trong nước thiếu nhân lực có trình độ kỹ thuật cao bởi đã thị thu hút bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc đi ra nước ngoài lao động. Doanh nghiệp thiếu thông tin về các nhà cung cấp nước ngoài có thể cung ứng nguyên liệu với giá thành hợp lý, chất lượng cao để có thể tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm. Cùng đó, cơ chế cấp vốn của Việt Nam hiện nay khó khăn, tạo cản trở không nhỏ cho doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn.
![]() |
| Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam gặp nhiều thách thức khi tham gia chuỗi sản xuất của doanh nghiệp Nhật Bản |
Tại Hội nghị giao thương trực tuyến sản phẩm CNHT diễn ra năm ngoái, ông Tạ Đức Minh- Tham tán thương mại Việt Nam Nhật Bản cũng từng nhấn mạnh: Doanh nghiệp CNHT Việt Nam hiện mới chủ yếu gia công theo yêu cầu của đối tác Nhật Bản, sản phẩm không đòi hỏi công nghệ và kỹ thuật phức tạp. Do vậy, giá trị gia tăng mà các doanh nghiệp Việt Nam tạo ra không lớn.
Ông Tạ Đức Minh khuyến nghị, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam cần phải đầu tư thêm chi phí cho mảng nghiên cứu và phát triển, đầu tư trang thiết bị hiện đại để có thể gia tăng hàm lượng kỹ thuật, hàm lượng công nghệ trong sản phẩm. Khi đó, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có khả năng gia công, xuất khẩu các sản phẩm có giá trị cao hơn, từ đó trở thành đối tác liên doanh, liên kết bình đẳng với các doanh nghiệp Nhật Bản.
Chung tay tạo cơ hội hợp tác
Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản đã có những cam kết quan trọng mở ra cơ hội hợp tác, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất cho doanh nghiệp hai nước. Trong 6 ngành ưu tiên của Chiến lược công nghiệp hóa trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam– Nhật Bản, bao gồm điện tử; máy nông nghiệp; chế biến nông, thủy sản; đóng tàu; môi trường và tiết kiệm năng lượng; sản xuất ô tô và phụ tùng ô tô, thì có 3 ngành điện tử; máy nông nghiệp; sản xuất ô tô và phụ tùng ô tô là liên quan đến CNHT.
Ngày 10/6 vừa qua, Bộ Công Thương Việt Nam cũng đã tổ chức Hội nghị giao thương trực tuyến CNHT Việt Nam – Nhật Bản 2021 với sự tham gia của 21 doanh nghiệp CNHT Việt Nam và 48 doanh nghiệp Nhật Bản. Phát biểu tại sự kiện, ông Vũ Bá Phú- Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho hay: Sự kiện có sự tham gia của các doanh nghiệp đang hoạt động trong các ngành linh kiện điện tử, hóa chất, gia công cơ khí, khuôn mẫu, cơ khí chính xác, cơ khí chế tạo, linh kiện ô tô, động cơ ô tô… Đây là những doanh nghiệp có năng lực sản xuất, quản lý bài bản theo các tiêu chuẩn quốc tế, có mong muốn cùng xây dựng các quan hệ đối tác bền vững với các doanh nghiệp Nhật Bản.
Có thể thấy, Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản đã rất nỗ lực triển khai các hoạt động nhằm tạo cơ hội giao thương cho doanh nghiệp hai nước. Tuy nhiên, để có thể cung ứng và tham gia vào chuỗi sản xuất của doanh nghiệp Nhật Bản, theo nhiều chuyên gia, doanh nghiệp Việt Nam cần phải tạo lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các đối tác Nhật Bản để có thể đàm phán, thương lượng về khả năng đáp ứng các yêu cầu của đối tác. Tăng năng suất và cần phải có hệ thống sản xuất giá thành thấp để tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm. Hiểu biết thấu đáo về văn hóa, tập quán kinh doanh của Nhật Bản là vô cùng quan trọng và khi đã có quan hệ hợp tác với đối tác Nhật Bản thì doanh nghiệp Việt Nam cần phải chú trọng để duy trì mối quan hệ đó một cách lâu dài.
Ông Akutsu Michio cũng khuyến cáo: Việc hợp tác với một doanh nghiệp thương mại chuyên biệt là một lựa chọn tốt cho doanh nghiệp Việt Nam. Nguyên do, những doanh nghiệp này có mạng lưới liên kết rộng lớn có thể cung cấp nguồn nguyên liệu với giá thành hợp lý, chất lượng sản phẩm tốt. Đồng thời, các doanh nghiệp chuyên biệt hoá cũng có thể cung cấp thông tin máy móc mới mà bình thường không tìm thấy trên internet. Họ cũng tham gia với nhà sản xuất để giải quyết các vấn đề phát sinh với người tiêu dùng.
“Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam cũng nên phát triển kênh bán hàng mới và bán các sản phẩm tự phát minh, tự chế tạo”, ông Akutsu Michio nói.
Đọc nhiều

Ba động lực thúc đẩy dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng tốc

Thị trường Philippines chuyển dịch nhu cầu, mở cơ hội cho hàng Việt

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số: Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm

Giá tiêu xuất khẩu ổn định, xuất khẩu thu về gần 1 tỷ USD sau 6 tháng

Bắc Ninh xét quy định hỗ trợ giá thuê mặt bằng tại khu, cụm công nghiệp

Nhiều địa phương mạnh tay với vi phạm trên thương mại điện tử

Infographic | Xuất khẩu dệt may hướng tới mục tiêu 48 tỷ USD

Tây Ninh xác định công nghiệp - xây dựng là trụ cột tăng trưởng hai con số

Đồng USD biến động mạnh: Điều gì sẽ quyết định xu hướng cuối năm?





