
Nông, lâm, thủy sản giữ vai trò trụ đỡ, góp 5,06% tăng trưởng kinh tế
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 4/4, cơ cấu nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, đóng góp 5,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Nông nghiệp duy trì ổn định
Trong quý I/2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định. Các địa phương tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị sản phẩm. Sản xuất cây lâu năm đạt kết quả khả quan; chăn nuôi lợn phục hồi; chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định.
Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 4,9%, sản lượng thịt gia cầm tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Lĩnh vực lâm nghiệp ghi nhận diện tích rừng trồng mới và sản lượng gỗ khai thác tăng nhẹ. Nuôi trồng thủy sản tăng 5,4% nhờ đẩy mạnh nuôi siêu thâm canh và ứng dụng công nghệ cao, trong khi khai thác biển tăng thấp do giá dầu tăng cao khiến tàu thuyền hạn chế ra khơi.
Về sản xuất lúa, tính đến ngày 20/3/2026, cả nước gieo cấy được 2.915,2 nghìn ha lúa đông xuân, giảm 37,3 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2025. Trong đó, các địa phương phía Bắc đạt 1.020,1 nghìn ha, giảm 13,4 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1.895,1 nghìn ha, giảm 23,9 nghìn ha. Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.240,7 nghìn ha, giảm 24,8 nghìn ha.

Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm(Tính đến ngày 20/3/2026).
Kết thúc vụ lúa mùa năm 2025 - 2026, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo trồng được 182,3 nghìn ha, giảm 9,4 nghìn ha so với vụ trước, chủ yếu do chuyển 6,9 nghìn ha sang nuôi trồng thủy sản; 0,4 nghìn ha sang cây hằng năm khác và khoảng 2,2 nghìn ha bỏ trống do hiệu quả thấp.
Dù diện tích giảm, năng suất lúa mùa toàn vùng ước đạt 53,5 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha nhờ thời tiết thuận lợi, ít sâu bệnh, chủ động nguồn nước và áp dụng giống lúa chất lượng cao, chịu mặn tốt. Sản lượng lúa mùa đạt 975,3 nghìn tấn, giảm 34,5 nghìn tấn do diện tích giảm.
Đối với cây hằng năm, tiến độ gieo trồng đậu tương và rau các loại tăng so với cùng kỳ năm trước; trong khi diện tích ngô và lạc giảm do hiệu quả kinh tế không cao.
Theo số liệu từ Cục Thống kê, sản xuất cây lâu năm trong quý I/2026 đạt kết quả khả quan khi giá nông sản chủ lực duy trì ở mức cao, khuyến khích người dân mở rộng quy mô và đầu tư chăm sóc. Công tác quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu được triển khai hiệu quả.
Hiện cả nước có 9.357 mã số vùng trồng và 1.381 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu các loại quả tươi như thanh long, xoài, vú sữa, chuối, bưởi, chanh leo, chanh không hạt, nhãn, vải, ớt, thạch đen… sang các thị trường như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ô-xtrây-li-a, Niu-di-lân, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Sản lượng nhiều loại cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước: sầu riêng đạt 212,9 nghìn tấn, tăng 15,0%; mít đạt 199,9 nghìn tấn, tăng 12,8%; bưởi đạt 175,5 nghìn tấn, tăng 5,8%; chuối đạt 835,7 nghìn tấn, tăng 5,3%; thanh long đạt 341,3 nghìn tấn, tăng 3,1%; xoài đạt 207,6 nghìn tấn, tăng 1,8%; cam đạt 333,2 nghìn tấn, tăng 1,2%.
Số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, các cây công nghiệp lâu năm cũng ghi nhận tăng trưởng: dừa đạt 593,8 nghìn tấn, tăng 6,0%; điều đạt 208,7 nghìn tấn, tăng 5,4%; hồ tiêu đạt 154,8 nghìn tấn, tăng 5,3%; chè búp đạt 187,7 nghìn tấn, tăng 4,2%; cao su đạt 135,5 nghìn tấn, tăng 0,4%.
Lĩnh vực chăn nuôi tiếp tục có sự phân hóa rõ nét. Chăn nuôi trâu, bò gặp khó khăn do diện tích đất chăn nuôi thu hẹp và hiệu quả thấp, nhiều địa phương giảm quy mô đàn. Đồng thời, việc tái đàn sau mưa lũ cuối năm 2025 tại miền Trung còn bị ảnh hưởng.

Tốc độ tăng số lượng gia súc, gia cầmcuối tháng 3/2026 so với cùng thời điểm năm trước.
Một số địa phương có đàn trâu giảm như Phú Thọ giảm 4,8%; Tuyên Quang giảm 3,4%; Điện Biên giảm 0,8%; Lào Cai giảm 0,5%; Nghệ An giảm 0,4%. Đàn bò cũng giảm tại Đắk Lắk (6,9%); Phú Thọ (2,5%); Quảng Ngãi và Sơn La (cùng giảm 2,4%).
Ngược lại, chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi và phát triển ổn định nhờ giá thịt lợn ở mức có lợi và dịch bệnh được kiểm soát. Một số địa phương có mức tăng cao như Gia Lai tăng 8,0%; Lâm Đồng tăng 7,5%; Đồng Nai và Phú Thọ cùng tăng 3,2%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,1%.
Tính đến ngày 30/3/2026, cả nước không còn dịch tai xanh và lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm còn ở Nghệ An và Đà Nẵng; dịch viêm da nổi cục còn ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi; dịch tả lợn châu Phi còn ở 21 địa phương chưa qua 21 ngày.
Lâm nghiệp, thuỷ sản tăng trưởng
Theo công bố của Cục Thống kê, trong tháng 3/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 23,9 nghìn ha, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán đạt 8,9 triệu cây, tăng 2,9%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 1.684,2 nghìn m³, tăng 4,1% nhờ giá gỗ ổn định và thời tiết thuận lợi.
Tính chung quý I/2026, diện tích rừng trồng mới đạt 45,6 nghìn ha, tăng 1,5%; số cây trồng phân tán đạt 19,0 triệu cây, giảm 1,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.337,8 nghìn m³, tăng 2,6%.
Đáng chú ý, diện tích rừng bị thiệt hại giảm mạnh. Trong tháng 3/2026, diện tích rừng bị thiệt hại là 9,4 ha, giảm 86,4% so với cùng kỳ; trong đó rừng bị chặt, phá là 9,3 ha, giảm 76,5%; diện tích rừng bị cháy là 0,1 ha, giảm 99,7%.
Tính chung quý I/2026, diện tích rừng bị thiệt hại là 57,8 ha, giảm 73,2%; trong đó rừng bị chặt, phá là 56,9 ha, giảm 66,0%; rừng bị cháy là 0,9 ha, giảm 98,1%.
Sản lượng thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 780,7 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, gồm cá đạt 577,1 nghìn tấn (tăng 2,5%), tôm đạt 84,0 nghìn tấn (tăng 5,9%) và thủy sản khác đạt 119,6 nghìn tấn (tăng 1,9%).

Sản lượng thủy sản quý I năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực tăng trưởng với sản lượng tháng đạt 495,4 nghìn tấn, tăng 6,1%; trong đó cá đạt 365,6 nghìn tấn, tăng 5,5%; tôm đạt 73,3 nghìn tấn, tăng 7,5%; thủy sản khác đạt 56,5 nghìn tấn, tăng 8,4%.
Tính chung quý I/2026, sản lượng nuôi trồng đạt 1.296,8 nghìn tấn, tăng 5,4%; trong đó cá đạt 946,7 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 196,3 nghìn tấn, tăng 7,3%; thủy sản khác đạt 153,8 nghìn tấn, tăng 6,7%.
Theo báo cáo Cục Thống kê, sản lượng cá tra tháng 3/2026 đạt 192,6 nghìn tấn, tăng 6,5% nhờ giá nguyên liệu tăng và nhu cầu tại Hoa Kỳ và EU tăng. Sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 50,0 nghìn tấn, tăng 9,2%; tôm sú đạt 19,2 nghìn tấn, tăng 3,8%.
Ngược lại, khai thác thủy sản chịu tác động từ giá dầu tăng cao. Sản lượng khai thác tháng 3/2026 đạt 285,3 nghìn tấn, giảm 2,7%; trong đó cá đạt 211,5 nghìn tấn, giảm 2,4%; tôm đạt 10,7 nghìn tấn, giảm 3,6%; thủy sản khác đạt 63,1 nghìn tấn, giảm 3,4%.
Tính chung quý I/2026, sản lượng khai thác đạt 887,2 nghìn tấn, tăng nhẹ 0,2%; trong đó cá đạt 675,2 nghìn tấn, tăng 0,2%; tôm đạt 33,5 nghìn tấn, tăng 0,3%; thủy sản khác đạt 178,5 nghìn tấn, giảm 0,2%.
Tổng sản lượng thủy sản quý I/2026 đạt 2.184,0 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá đạt 1.621,9 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 229,8 nghìn tấn, tăng 6,2%; thủy sản khác đạt 332,3 nghìn tấn, tăng 2,9%.
Nhìn chung, trong quý I/2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn nhiều khó khăn. Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật và mở rộng thị trường xuất khẩu tiếp tục là những yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng.
Bên cạnh đó, sự phân hóa giữa các lĩnh vực cho thấy yêu cầu tiếp tục tái cơ cấu theo hướng nâng cao hiệu quả, giá trị gia tăng và phát triển bền vững, góp phần ổn định kinh tế - xã hội trong thời gian tới.
Tin mới cập nhật


Hành trình thương hiệu nông sản Việt vươn ra thế giới
Điện Biên: Đẩy mạnh phát triển OCOP, gia tăng giá trị nông sản bản địa

Vĩnh Long thúc đẩy chuyển đổi kép xanh - số cho nông sản bền vững
Đọc nhiều

Nông, lâm, thủy sản giữ vai trò trụ đỡ, góp 5,06% tăng trưởng kinh tế

GDP quý I/2026 tăng 7,83%, công nghiệp tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Quý I/2026, tài chính, ngân hàng và chứng khoán khởi sắc

Sẽ đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề việc làm, giá vàng, giá nhà

Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam: Cơ hội hút vốn ngoại

Ưu tiên dung tích hồ chứa, giảm lũ cho hạ du

Ngân hàng đẩy mạnh cơ cấu lại, mở đường tăng trưởng bền vững

Quảng Ninh định hướng trở thành đô thị loại I

Infographic | CPI bình quân của Hà Nội quý I năm 2026 tăng 4,29%




