Dữ liệu vùng nguyên liệu: Nền tảng để nông sản Việt đáp ứng EUDR

Dữ liệu vùng nguyên liệu không chỉ phục vụ truy xuất nguồn gốc theo quy định EUDR mà còn là nền tảng quản trị chuỗi cung ứng nông sản hiện đại.

Dữ liệu vùng nguyên liệu không chỉ phục vụ xuất khẩu

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu đang trở thành nền tảng quan trọng để nông sản Việt đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và nâng cao năng lực quản trị ngành hàng.

Yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc nông lâm sản, đặc biệt là việc triển khai Quy định chống phá rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR), đang định hình lại toàn bộ luật chơi xuất khẩu toàn cầu. Ảnh: An Thành Đạt/TTXVN

Yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc nông lâm sản, đặc biệt là việc triển khai Quy định chống phá rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR), đang định hình lại toàn bộ luật chơi xuất khẩu toàn cầu. Ảnh: An Thành Đạt/TTXVN

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng), cho rằng quy định EUDR không phải là đích đến cuối cùng mà là động lực để ngành nông nghiệp chuyển từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu.

Hiện ngành nông nghiệp có ba nguồn dữ liệu lớn gồm dữ liệu của doanh nghiệp, dữ liệu từ nông hộ và hợp tác xã, cùng dữ liệu của cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu này đang được xây dựng và quản lý theo những cách khác nhau, dẫn đến tình trạng thiếu kết nối và chia sẻ hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp sử dụng nền tảng số và phương pháp thu thập riêng để phục vụ sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu. Trong khi đó, dữ liệu của cơ quan quản lý chủ yếu phục vụ thống kê và hoạch định chính sách nên mang tính tổng hợp, chưa phản ánh kịp thời biến động thực tế. “Việt Nam không thiếu dữ liệu, nhưng dữ liệu đang phân tán ở doanh nghiệp, tổ chức chứng nhận và nhiều đơn vị khác nhau, khiến việc liên thông và khai thác còn hạn chế”, ông Tuấn Anh cho biết.

Mặt khác, nhiều địa phương còn nhầm lẫn giữa mã số vùng trồng và cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu. Theo ông Phạm Tuấn Anh, mã số vùng trồng chỉ là công cụ định danh, giống như “thẻ căn cước” của vùng sản xuất, không thể thay thế cho một hệ thống dữ liệu đầy đủ phục vụ quản trị. Giá trị lớn nhất của cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu không chỉ nằm ở việc đáp ứng EUDR mà còn ở khả năng quản trị chuỗi cung ứng theo thời gian thực. “Cơ sở dữ liệu không chỉ để đáp ứng quy định mà còn quyết định năng lực quản trị của doanh nghiệp và của cả ngành hàng”, ông nhấn mạnh.

Cần cơ chế điều phối và chia sẻ dữ liệu

Từ kinh nghiệm triển khai tại tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng), ông Phạm Tuấn Anh cho biết, địa phương từng gặp khó khăn khi doanh nghiệp cần tìm nguồn cung cà phê đạt chứng nhận 4C. Dù nắm được tổng diện tích cà phê, cơ quan quản lý không thể xác định ngay vùng nguyên liệu nào đáp ứng yêu cầu vì dữ liệu chủ yếu tồn tại dưới dạng thống kê. Nếu có hệ thống dữ liệu số đồng bộ, cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thể nhanh chóng xác định vùng nguyên liệu đang vào vụ, sản lượng dự kiến, doanh nghiệp thu mua hoặc khu vực chịu ảnh hưởng bởi hạn hán để kịp thời có giải pháp hỗ trợ.

Ông dẫn ví dụ tại Đắk Nông trước khi sáp nhập, diện tích sầu riêng khoảng 45.500 ha, nhưng diện tích đã được cấp mã số vùng trồng chỉ chiếm khoảng 29%. Điều đó đồng nghĩa hơn 70% diện tích còn lại chưa được quản lý bằng hệ thống truy xuất nguồn gốc phù hợp. “Khoảng trống này đặt ra nhiều câu hỏi: những diện tích chưa được quản lý nằm ở đâu, có đáp ứng quy định chống mất rừng hay không. Nếu không có cơ sở dữ liệu đầy đủ thì rất khó trả lời”, ông phân tích và nhận định đây chính là “vùng mù” lớn nhất trong quản trị ngành hàng khi các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu minh bạch nguồn gốc.

Để xây dựng hệ thống dữ liệu vùng nguyên liệu thống nhất, ông Phạm Tuấn Anh cho rằng cần kết hợp đồng thời hai hướng tiếp cận: từ trên xuống và từ dưới lên. Nhà nước cần xây dựng hành lang pháp lý, tiêu chuẩn và hạ tầng dùng chung; trong khi doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia cập nhật dữ liệu. “Đây không chỉ là dữ liệu số mà còn là dữ liệu pháp lý, vì vậy cần có sự điều phối thống nhất ở cấp quốc gia”, ông nhấn mạnh và đề xuất sớm ban hành cơ chế chia sẻ lợi ích để khuyến khích các bên tham gia xây dựng dữ liệu. “Người nông dân sẽ không chủ động chia sẻ dữ liệu nếu không thấy lợi ích cụ thể. Doanh nghiệp cũng vậy. Chỉ khi quyền lợi của các bên gắn với chất lượng dữ liệu thì hệ thống mới có thể vận hành bền vững”, ông nói.

Đối với doanh nghiệp, ngoài chi phí đầu tư, vấn đề bảo mật thông tin cũng cần được quan tâm. Doanh nghiệp sẵn sàng phối hợp với cơ quan quản lý nhưng cần có cơ chế bảo vệ dữ liệu để tránh bị khai thác hoặc sử dụng không đúng mục đích.

Theo các chuyên gia trong ngành, EUDR chỉ là bước khởi đầu. Mục tiêu dài hạn là xây dựng một nền nông nghiệp được quản trị bằng dữ liệu, trong đó cơ quan quản lý có thể truy cập thông tin theo thời gian thực để điều hành, doanh nghiệp có công cụ quản trị chuỗi cung ứng hiện đại và người nông dân tham gia vào một hệ thống minh bạch, bền vững. “Khi có một hệ thống dữ liệu được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên, cơ quan quản lý có thể phục vụ điều hành và hoạch định chính sách hiệu quả hơn. Đây mới là giá trị cốt lõi của cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu, chứ không chỉ để vượt qua các rào cản kỹ thuật của thị trường xuất khẩu”, ông khẳng định.

Theo các chuyên gia, cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu không phải là công cụ đối phó tạm thời với rào cản thị trường xuất khẩu mà là nền tảng để chuyển từ phương thức quản lý dựa trên báo cáo sang quản trị ngành hàng dựa trên dữ liệu thực tế.

Nguyễn Hạnh
Bình luận

Tin mới cập nhật

Đọc nhiều

Thị trường hoa 20/10: Hoa nhập khẩu tăng giá, giỏ hoa tiền triệu vẫn hút khách

Thị trường hoa 20/10: Hoa nhập khẩu tăng giá, giỏ hoa tiền triệu vẫn hút khách

Thị trường hoa tại Hà Nội bắt đầu sôi động, chuẩn bị cho ngày 20/10. Nhiều mẫu hoa có giá từ vài triệu đồng, thậm chí lên tới hàng chục triệu đồng đã được đặt hàng.
Năm 2027: Tăng tốc, bứt phá vì mục tiêu tăng trưởng hai con số

Năm 2027: Tăng tốc, bứt phá vì mục tiêu tăng trưởng hai con số

Thủ tướng Lê Minh Hưng đề ra 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2027, hướng tới tăng trưởng GDP từ 10% trở lên và tạo chuyển biến thực chất.
Doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn để tăng trưởng

Doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn để tăng trưởng

Hội nghị là dịp để lãnh đạo và doanh nghiệp đối thoại, nhận diện điểm nghẽn, đề xuất giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, tăng liên kết vùng, phát triển bền vững.
Cắt giảm thủ tục hành chính, gỡ rào cản cho doanh nghiệp phát triển

Cắt giảm thủ tục hành chính, gỡ rào cản cho doanh nghiệp phát triển

Cải cách thủ tục hành chính ngoài là yêu cầu quản lý, mà còn là mục tiêu để khơi thông nguồn lực, tạo môi trường phát triển cho người dân và doanh nghiệp.
Thông tin mới nhất về chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang căn cước công dân

Thông tin mới nhất về chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang căn cước công dân

Đến ngày 16/10/2026, theo Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, số người chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân, căn cước công dân là 102.346.428 người.
Gia Lai: Cấp xã đồng hành cùng doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế tư nhân

Gia Lai: Cấp xã đồng hành cùng doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế tư nhân

Từ đối thoại, lắng nghe kiến nghị đến tháo gỡ khó khăn, chính quyền cơ sở đang góp phần tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển, đóng góp tăng trưởng kinh tế.
Có gì đáng chú ý tại Tuần lễ Công trình xanh và Giao thông xanh 2026?

Có gì đáng chú ý tại Tuần lễ Công trình xanh và Giao thông xanh 2026?

Tuần lễ Công trình xanh và Giao thông xanh Việt Nam 2026 sẽ tập trung kết nối công nghệ, giải pháp, nguồn lực thúc đẩy chuyển đổi xanh trong ngành Xây dựng và giao thông.
Doanh nghiệp chủ động giải pháp cho mục tiêu phát triển xanh

Doanh nghiệp chủ động giải pháp cho mục tiêu phát triển xanh

Việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi năng lượng sạch đang trở thành chiến lược lâu dài giúp doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Cần Thơ đặt mục tiêu kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GRDP vào năm 2030

Cần Thơ đặt mục tiêu kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GRDP vào năm 2030

Kinh tế số Cần Thơ tăng từ 6% năm 2020 lên 7,38% năm 2025. Thành phố đặt mục tiêu đạt tối thiểu 30% GRDP vào năm 2030.
Liên kết nhà khoa học và doanh nghiệp để phát huy sáng kiến

Liên kết nhà khoa học và doanh nghiệp để phát huy sáng kiến

Từ thực tiễn sản xuất tại Gốm Đất Việt, liên kết giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và tổ chức hỗ trợ sáng tạo góp phần hoàn thiện, bảo hộ và ứng dụng sáng kiến.