Cao Bằng: Doanh nghiệp nỗ lực xây dựng thương hiệu nông sản hữu cơ

Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã tại Cao Bằng đang chú trọng xây dựng thương hiệu nông sản hữu cơ, từng bước nâng cao giá trị và mở rộng thị trường cho sản phẩm này.

Tại tỉnh Cao Bằng, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ đang gắn chặt với mục tiêu xây dựng thương hiệu nông sản bền vững đang là xu hướng của nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã. Đây là hướng đi mang tính chiến lược, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và khẳng định vị thế của nông sản địa phương trên thị trường trong nước và quốc tế.

Nỗ lực khẳng định thương hiệu nông sản hữu cơ

Thực tế cho thấy, thương hiệu nông sản không thể hình thành nếu thiếu nền tảng vùng nguyên liệu ổn định và quy trình sản xuất minh bạch. Tại Cao Bằng, những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng chuỗi sản xuất hữu cơ, từng bước tạo dựng niềm tin với thị trường.

Theo ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Công ty TNHH Phát triển nông nghiệp và Tư vấn môi trường (DACE), ngay từ khi thành lập, công ty xác định việc phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ nhằm tạo ra sản phẩm sạch, mà còn là cách để định vị thương hiệu cho nông sản địa phương.

Từ năm 2015, doanh nghiệp đã bắt tay xây dựng các vùng nguyên liệu gừng và ớt chỉ thiên, liên kết với người dân trên diện tích lớn. Đến nay, riêng cây gừng đã phát triển lên 460 ha tại các xã như Lũng Nặm, Tổng Cọt.

Tại xã Thành Công (tỉnh Cao Bằng), Công ty TNHH Kolia đang phát triển vùng chè hữu cơ rộng lớn, đạt tiêu chuẩn cao. Ảnh: Sơn Tùng

Tại xã Thành Công (tỉnh Cao Bằng), Công ty TNHH Kolia đang phát triển vùng chè hữu cơ rộng lớn, đạt tiêu chuẩn cao. Ảnh: Sơn Tùng

Hiệu quả kinh tế từ mô hình này là minh chứng rõ ràng cho hướng đi đúng. Ông Trương Văn Lần, một hộ dân tại xã Tổng Cọt cho biết, mỗi năm gia đình ông thu khoảng 15 tấn gừng, mang lại thu nhập gần 200 triệu đồng. So với các cây trồng truyền thống, mức thu nhập này cao hơn đáng kể, giúp gia đình thoát nghèo và ổn định cuộc sống.

Không dừng lại ở quy mô sản xuất, DACE còn chú trọng đến tiêu chuẩn hóa để nâng tầm thương hiệu. Đến cuối năm 2022, hơn 1.400 ha hồi tại huyện Thạch An đã được cấp chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn Nhật Bản, Mỹ và châu Âu. Đây là “tấm hộ chiếu” quan trọng để sản phẩm tiếp cận các thị trường khó tính.

Ở một hướng đi khác, Công ty TNHH Kolia tại Phja Đén (xã Thành Công) lựa chọn phát triển thương hiệu theo chiều sâu. Với lợi thế khí hậu mát mẻ quanh năm, đơn vị đã xây dựng vùng chè hữu cơ 30 ha, hợp tác với 50 hộ dân. Các sản phẩm trà Ô long, Kim Tuyên, Thanh Tâm… không chỉ đạt tiêu chuẩn cao mà còn xuất khẩu thành công sang Đài Loan – thị trường nổi tiếng khắt khe về chất lượng.

Những mô hình này cho thấy, thương hiệu nông sản hữu cơ không phải là khái niệm xa vời, mà hoàn toàn có thể hình thành từ chính những vùng nguyên liệu nếu được đầu tư bài bản và kiên trì.

Nếu vùng nguyên liệu là “gốc”, thì chất lượng sản phẩm và thị trường chính là “thước đo” của thương hiệu. Trong quá trình này, các hợp tác xã đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức sản xuất và giữ gìn uy tín sản phẩm. Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Hà Quảng (xã Trường Hà) là một ví dụ điển hình.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Phan Văn Thắng, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Hà Quảng cho biết, việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hữu cơ là quá trình dài, đòi hỏi sự kiên trì, tuân thủ quy trình sản xuất sạch.

“Chúng tôi xác định ngay từ đầu, muốn xây dựng thương hiệu thì sản phẩm phải thực sự sạch. Từ khâu trồng trọt đến thu hoạch đều phải kiểm soát chặt chẽ, sử dụng hoàn toàn phân bón hữu cơ và tuyệt đối không dùng hóa chất. Có như vậy mới giữ được niềm tin của khách hàng”, ông Thắng chia sẻ.

Hiện nay, các sản phẩm như gừng, ớt, quế, hồi, nghệ của hợp tác xã đã được chứng nhận hữu cơ và từng bước khẳng định chỗ đứng. Không chỉ tiêu thụ trong nước, nhiều sản phẩm đã xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Úc, Nhật Bản, Pháp và các nước châu Âu.

Theo ông Thắng, việc đưa được sản phẩm ra thị trường quốc tế là bước tiến quan trọng, nhưng để giữ được thương hiệu lại là câu chuyện dài hơi hơn. “Thị trường càng khó tính thì yêu cầu càng cao. Chỉ cần một lô hàng không đạt chuẩn là có thể ảnh hưởng đến uy tín cả vùng sản xuất. Chính vì vậy, hợp tác xã luôn đặt yếu tố kiểm soát chất lượng lên hàng đầu, đồng thời chủ động liên kết với các đơn vị chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm", ông nói.

Gỡ “nút thắt” để thương hiệu phát triển bền vững

Dù đã có những tín hiệu tích cực, nhưng theo ông Phan Văn Thắng, quá trình xây dựng thương hiệu nông sản hữu cơ của hợp tác xã này vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức.

“Khó khăn lớn nhất là làm sao mở rộng quy mô mà vẫn giữ được chất lượng đồng đều. Sản xuất hữu cơ yêu cầu rất cao, trong khi nhiều hộ dân còn e ngại vì chi phí đầu tư ban đầu lớn và thời gian thu hồi vốn dài”, ông Thắng chia sẻ.

Bên cạnh đó, việc thiếu cơ sở chế biến tại chỗ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng thương hiệu. Hiện nay, nhiều sản phẩm vẫn phải đưa về Hà Nội để chế biến, khiến chi phí tăng và giảm tính chủ động.

“Chúng tôi đang có kế hoạch xây dựng nhà máy chế biến ngay tại địa phương. Khi có nhà máy, sản phẩm sẽ được xử lý nhanh hơn, chất lượng ổn định hơn và quan trọng là nâng cao giá trị gia tăng”, ông Thắng cho biết.

Một “điểm nghẽn” khác là công tác quảng bá và phát triển thị trường. Dù sản phẩm đã đạt tiêu chuẩn cao, nhưng việc tiếp cận người tiêu dùng, đặc biệt là thị trường quốc tế, vẫn còn hạn chế.

Từ thực tế đó, ông Thắng kiến nghị cần có thêm các chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, cũng như tăng cường xúc tiến thương mại để giúp doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng và phát triển thương hiệu.

Ông Phan Văn Thắng, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Hà Quảng giới thiệu sản phẩm nông nghiệp hữu do hợp tác xã sản xuất tại một hội nghị. Ảnh: Phong Lâm

Ông Phan Văn Thắng, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Hà Quảng giới thiệu sản phẩm nông nghiệp hữu do hợp tác xã sản xuất tại một hội nghị. Ảnh: Phong Lâm

Cùng quan điểm, ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Công ty TNHH Phát triển nông nghiệp và Tư vấn môi trường (DACE) cho rằng, cần đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ. Đồng thời, tận dụng các nền tảng thương mại điện tử để quảng bá sản phẩm, đưa nông sản hữu cơ đến gần hơn với người tiêu dùng.

"Phát triển thương hiệu nông sản hữu cơ không chỉ giúp nâng cao giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Với những nỗ lực từ doanh nghiệp và hợp tác xã, tôi tin rằng thương hiệu nông sản hữu cơ Cao Bằng sẽ khẳng định được vị thế trên bản đồ nông sản sạch của Việt Nam", ông Trần Văn Hiếu cho hay.

Thực tế cho thấy, thương hiệu đang trở thành yếu tố quyết định giá trị và sức cạnh tranh của nông sản. Một sản phẩm dù chất lượng tốt nhưng thiếu thương hiệu sẽ khó tiếp cận thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế. Đối với nông sản hữu cơ, đây càng là yếu tố quan trọng để tạo niềm tin với người tiêu dùng và hướng tới phát triển bền vững.

Phong Lâm
Bình luận

Tin mới cập nhật

Đọc nhiều

Thành phố Huế: Bài toán gia tăng giá trị từ du lịch tàu biển

Thành phố Huế: Bài toán gia tăng giá trị từ du lịch tàu biển

Khách tàu biển đến Huế tăng, nhưng tỷ lệ rời tàu đạt khoảng 30%; bài toán đặt ra là kéo dài trải nghiệm, tăng chi tiêu và đưa nguồn thu rộng hơn cho kinh tế địa phương.
Thương mại điện tử mở lối cho đặc sản Cao Bằng vươn xa

Thương mại điện tử mở lối cho đặc sản Cao Bằng vươn xa

Từ phiên livestream tối 23/10, nhiều sản phẩm tiêu biểu của Cao Bằng có thêm cơ hội tiếp cận khách hàng, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị thương hiệu.
Chọn thức ăn cho thú cưng: Đừng chỉ dựa vào quảng cáo

Chọn thức ăn cho thú cưng: Đừng chỉ dựa vào quảng cáo

Người nuôi chó, mèo cần quan tâm đến thành phần dinh dưỡng, thông tin trên bao bì và nhu cầu của vật nuôi theo từng giai đoạn phát triển, thay vì chỉ lựa chọn thức ăn theo quảng cáo hoặc thói quen.
Đà Nẵng tìm động lực tăng trưởng từ thương mại điện tử xuyên biên giới

Đà Nẵng tìm động lực tăng trưởng từ thương mại điện tử xuyên biên giới

Đà Nẵng định hướng phát triển hệ sinh thái thương mại điện tử, mở rộng xuất khẩu trực tuyến, ứng dụng AI, tạo động lực tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030.
Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp

Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu nghiên cứu chuyển từ giao từng đề tài sang giao nhiệm vụ theo gói, gắn với mục tiêu và sản phẩm đầu ra. Năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải có doanh nghiệp cụ thể tham gia hợp tác, từng bước đưa kết quả khoa học, công nghệ vào sản xuất và thị trường.
Chuyển đổi xe điện: Bài toán khó từ tầng hầm chung cư

Chuyển đổi xe điện: Bài toán khó từ tầng hầm chung cư

Số lượng xe điện tăng nhanh nhưng nhiều chung cư Hà Nội còn thiếu điểm sạc, hạn chế về hạ tầng điện và an toàn PCCC, đặt ra yêu cầu tháo gỡ đồng bộ.
Tổ chức Cuộc thi Tài năng múa học sinh, sinh viên toàn quốc năm 2026

Tổ chức Cuộc thi Tài năng múa học sinh, sinh viên toàn quốc năm 2026

Cuộc thi 'Tài năng múa học sinh, sinh viên toàn quốc năm 2026' dự kiến diễn ra trong tháng 11/2026 tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, với 188 thí sinh tham gia.
Ứng dụng AI, giảm chi phí phát triển du lịch cộng đồng

Ứng dụng AI, giảm chi phí phát triển du lịch cộng đồng

Từ thiết kế homestay đến xây dựng tuyến trải nghiệm, AI mở thêm công cụ hỗ trợ người dân chuẩn hóa dịch vụ, tiết kiệm chi phí và kết nối thị trường.
Xuất khẩu tôm chậm lại, doanh nghiệp đối mặt thách thức gì?

Xuất khẩu tôm chậm lại, doanh nghiệp đối mặt thách thức gì?

Xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 3,7 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 11% so với cùng kỳ, song đà tăng trưởng đang chậm lại do xuất khẩu sang Mỹ và EU suy giảm.
Dệt may Việt Nam cần gì để đón dòng dịch chuyển chuỗi cung ứng?

Dệt may Việt Nam cần gì để đón dòng dịch chuyển chuỗi cung ứng?

Ngành dệt may Việt Nam cần nâng cao năng lực sản xuất, chủ động nguồn nguyên liệu, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.